Hội Dâu – nghi lễ nông nghiệp điển hình ở châu thổ Bắc Bộ

Hội Dâu – nghi lễ nông nghiệp điển hình ở châu thổ Bắc Bộ

1. Dâu là tên địa danh, di tích và vùng đất thuộc địa vực hành chính của 3 xã thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh ngày nay là xã Thanh Khương, xã Hà Mãn, xã Trí Quả. Trước kia 3 xã này hợp thành tổng Thanh Khương, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc – Bắc Ninh, dân gian quen gọi là Tổng Dâu vùng Dâu bởi gắn với sông Dâu, chợ Dâu và hội Dâu vào ngày 8 tháng 4 âm lịch hàng năm.

2. Nằm ở trung tâm châu thổ Bắc Bộ, đất đai màu mỡ, cao thoáng, giàu nguồn nước, từ những thế kỷ trước công nguyên, vùng Dâu là trung tâm nông nghiệp của người Việt. Nhà sử học Đào Duy Anh trong công trình “Cổ Sử Việt Nam” đã nhận định: “ Dâu – tức Luy Lâu là cái ổ để người Việt tỏa ra chiếm lĩnh vùng trung châu”. Người Việt chính là chủ nhân của nền văn minh Đông Sơn – Văn minh Sông Hồng – nền văn minh lúa nước tiêu biểu ở Đông Nam Á. Căn cứ vào các nguồn sử liệu địa danh, tín ngưỡng dân gian, khảo cổ học, Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng đã khẳng định: Dâu chính là trung tâm của bộ lạc Dâu – một bộ lạc lớn chuyên cấy lúa và trồng dâu chăn tằm dệt lụa ở vùng sông Dâu, trở thành một trong những bộ phận cốt lõi của quốc gia Văn Lang – Âu Lạc thời dựng nước đầu tiên ở những thế kỷ trước Công nguyên. Cũng từ những kết quả nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng Dâu và quê hương Bắc Ninh, giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhận xét và đánh giá: Bắc Ninh là cái nôi sinh thành người Việt, và như vậy Bắc Ninh là trung tâm của nền văn minh nông nghiệp lúa nước của người Việt mà vùng bộ lạc Dâu (Thuận Thành ngày nay) là địa bàn trọng điểm. Địa danh Dâu tồn tại phổ biến trong dân gian đến nay cùng hàng loạt các di tích, di vật khảo cổ được phát hiện và nghiên cứu ở vùng Dâu cũng như ở Bắc Ninh cho thấy ở những thiên niên kỷ trước Công nguyên, cư dân nông nghiệp đã tới cư trú, lập làng tiến hành canh tác nông nghiệp trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, làm nhiều nghề thủ công, đánh bắt tôm cá ở dọc đôi bờ sông Cầu, sông Ngũ huyện, Tiêu Tương, Tào Khê, và đôi bờ sông Dâu. Những làng tiểu nông điển hình của Việt Nam đã được hình thành và phát triển trước hết ở Bắc Ninh và vùng Dâu – Dâu đã sớm trở thành trung tâm kinh tế – văn hóa của người Việt ở nhiều thế kỷ trước Công nguyên.

3. Chính do địa lý và cơ sở kinh tế – văn hóa đó, trong những thế kỷ sau Công nguyên, Dâu đã sớm trở thành trung tâm chính trị – kinh tế và văn hóa của quận Giao Chỉ và sau đó là Giao Châu. Trị sở của quận và của Châu đặt ở Dâu tức  Luy Lâu. Luy Lâu cũng trở thành một đô thị lớn, trung tâm kinh tế, trung tâm văn hóa và Phật giáo của nước ta thời Bắc thuộc. Chùa Dâu trở thành chốn tổ của Phật giáo Việt Nam đồng thời Luy Lâu cũng trở thành trung tâm Nho giáo và truyền bá văn hóa Hán vào nước ta với vai trò của Sĩ Nhiếp được ghi nhận và tôn vinh là “Nam giao học tổ”.

Trong điều kiện đó, kinh tế nông nghiệp vùng Dâu – Luy Lâu càng có điều kiện phát triển tiếp tục giữ vững vai trò là vùng nông nghiệp điển hình của xứ Bắc – Vũ Ninh – Kinh Bắc. Hàng loạt các di tích khảo cổ thời Bắc thuộc được phát hiện và khai quật nghiên cứu ở Luy Lâu như di tích cư trú, các khu lò gốm, lò gạch ngói, đồ gốm sứ, đặc biệt là hàng vạn viên chì lưới bằng đất nung, dọi xe sợi, các lò đúc đồng trong thành Luy Lâu, mảnh khuôn đúc trống đồng… đã là những minh chứng xác thực cho sự sầm uất của đô thị Luy Lâu với các hoạt động giao lưu, hội nhập kinh tế – văn hóa, tín ngưỡng – tôn giáo giữa Luy Lâu với các vùng miền, các nước trong khu vực. Có ý kiến cho rằng Luy Lâu là đô thị cảng mang tầm quốc tế ở Giao Chỉ – Giao Châu thời Bắc thuộc.

Mặc dù vậy, Luy Lâu vẫn giữ vai trò là vùng nông nghiệp điển hình của nước ta với đậm đặc các làng tiểu nông đa canh, đa nghề mà một bài ca dao cổ trong vùng còn truyền lại là một minh chứng:

“Tư Thế bút mực làm giàu,
Trà Lâm mổ lợn, uốn câu làng Dàn.
Nấu chì đã có Văn Quan,
Kẻ Tướng đi hát kiếm quan tiền dài.
Nấu dầu đã có Thanh Hoài
Đông Cốc dậm dủi đâu đâu cũng mò
Dâu Tự buôn muối, Lũng Triền buôn nâu
Làng Mèn làm quạt khéo tay
Xuân Nê thả chũm, Doãn Đồng đi câu
Công Hà trồng bí, trồng bầu…”

Với truyền thống đặc trưng và bền vững đó, khi Luy Lâu không còn giữ vai trò là trung tâm chính trị và đô thị Luy Lâu không còn, thì vùng Dâu – Luy Lâu vẫn là vùng kinh tế nông nghiệp phát triển. Sang thời phong kiến độc lập, vùng Thổ Lỗi – Siêu Loại thuộc thủ phủ Thuận An – tức Dâu – Luy Lâu xưa, vẫn tiếp tục là vùng nông nghiệp trù phú, nổi tiếng những làng trồng dâu chăn tằm, dệt vải, là quê hương của Nguyên Phi Ỷ Lan – cô gái vùng Dâu nổi danh tài đảm, trở thành vợ vua Lý Thánh Tông – người đã có những chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nghề trồng dâu, chăn tằm dệt vải lụa.

4. Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp tiểu nông, lại từng là trung tâm văn hóa của người Việt, nhiều thế kỷ là trung tâm chính trị, trung tâm giao lưu kinh tế – tín ngưỡng, văn hóa của nước ta với nhiều nước trong khu vực, đời sống tâm linh tín ngưỡng của cư dân vùng Dâu – Luy Lâu – Thuận Thành rất phong phú đa dạng. Người dân các làng xã thờ thần thánh, thờ các danh nhân lịch sử văn hóa, thờ phật, thờ các vị thần mẫu, thờ tổ tiên, ông bà… Nhưng bao trùm và ảnh hưởng sâu đậm trong tín ngưỡng tôn giáo của người vùng này là tín ngưỡng dân gian thờ các vị thần có liên quan đến sản xuất nông nghiệp.

Ở vùng này, nơi duy nhất có lăng mộ và đền thờ Kinh Dương Vương – vị thủy tổ của người Việt phương Nam tức “Nam Bang thủy tổ”. Cũng ở vùng này, đậm đặc các làng thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, thờ Hùng Vương và nhiều tướng lĩnh của vua Hùng. Theo lịch sử và truyền thuyết các vị trên là con cháu của họ Thần Nông – một trong 5 vị đế thời thượng cổ đã dạy dân làm nông nghiệp, mà sử ghi là Viêm Đế.

Tín ngưỡng đặc trưng của vùng Dâu – Luy Lâu là thờ các hiện tượng thiên nhiên: mây, mưa, sấm, chớp gọi là “Tứ pháp” là những hiện tượng chi phối trực tiếp đời sống và sản xuất của người làm nông nghiệp lúa nước. Đây là tín ngưỡng dân gian vừa cổ xưa vừa tiêu biểu cho đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân vùng Dâu.

Khi Dâu trở thành trung tâm Phật giáo, trung tâm Nho giáo của nước ta từ đầu Công nguyên thì cả Phật giáo, Nho giáo và các tín ngưỡng ngoại sinh xâm nhập vào Luy Lâu đều phải hòa nhập và Việt hóa với tín ngưỡng dân gian vùng Dâu.

Bản khắc “Cổ châu pháp vân Phật bản hạnh” khắc năm 1752 lưu tại chùa Dâu và văn bia chùa Tổ Mãn Xá là tài liệu về lịch sử “Tứ pháp” được coi là lịch sử phật giáo Việt Nam, đã cho biết khá cụ thể, sinh động việc truyền bá Phật giáo (và cả Nho giáo) vào Dâu cũng như quá trình chuyển hóa các hiện tượng thiên nhiên: mây, mưa, sấm, chớp thành các vị phật mẫu: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện được nhân dân lập chùa thờ ở Luy Lâu trong đó chùa Dâu là trung tâm thờ Pháp Vân. Các phật mẫu còn được gọi bằng cái tên dân gian của cư dân vùng trồng dâu chăn tằm, cấy trồng lúa, đậu là bà Dâu, bà Đậu, bà Dàn, bà Tướng. Nhiều nơi ở châu thổ Bắc Bộ thờ Tứ pháp nhưng các kết quả nghiên cứu đã khẳng định tín ngưỡng thờ “Tứ pháp” bắt nguồn từ Dâu rồi lan tỏa ra các vùng xung quanh. Đáng lưu ý là Phật tứ pháp ở vùng Dâu còn được thánh hóa thành “Đại Thánh Pháp Vân”; “Đại Thánh Pháp Vũ”… và được các triều vua phong sắc cho các làng thờ làm thành hoàng. Tài liệu “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” cho biết rằng chính Sĩ Nhiếp  – “Nam Giao học tổ” hay nhân dân còn gọi là thánh Nam Giao là người đã tạc tượng “Tứ pháp” và cho phép dựng chùa để thờ. Ngày hội Dâu, chính Sĩ Nhiếp là người khai hội. Đó là những cứ liệu về quá trình Việt hóa – tín ngưỡng dân gian hóa Phật giáo, Nho giáo diễn ra ở trung tâm Luy Lâu.

Nghi thức thờ tự các chùa vùng Dâu mà điển hình là chùa Dâu thể hiện đặc trưng tín ngưỡng dân gian của vùng nông nghiệp điển hình. Chùa Dâu được dựng từ những thế kỷ đầu Công nguyên – ngôi chùa cổ nhất đồng thời là chốn tổ Phật giáo Việt Nam. Thế kỷ thứ VI Dâu là trung tâm của thiền phái Tì ni đa lưu chi – Phái Thiền Việt Nam đầu tiên, nơi trụ trì của nhiều bậc cao tăng Việt Nam, Trung quốc, Trung Á. Sang thời Trần chùa Dâu được trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho hưng công tu bổ thành “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp” một danh lam cổ tự bậc nhất Việt Nam.

Trải qua hơn 2 thiên niên kỷ, qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhưng chùa Dâu vẫn giữ được sự cổ kính trong kiến trúc và đặc biệt là nghi thức thờ tự thể hiện Phật hóa tín ngưỡng dân gian vùng Dâu. Kiến trúc chùa quy mô, bề thế, nhưng trung điểm là tòa tháp Hòa Phong (Hòa Phong tháp) cao to vượt lên (nay là 3 tầng cao 15m trước kia là 9 tầng). Tòa tháp ở trung tâm chùa – dấu tích đặc trưng của các tịnh xá Phật giáo Ấn Độ, khẳng định sự cổ xưa và chốn tổ đình Phật giáo Việt Nam, đồng thời là một biểu hiện tín ngưỡng tâm linh cầu mưa thuận gió hòa của cư dân nông nghiệp vùng Dâu – miền châu thổ Bắc Bộ. Vì vậy tháp “Hòa Phong” là kiến trúc tiêu biểu và độc đáo của chùa Dâu, đồng thời được coi là cội nguồn tâm linh, là nơi hội tụ của cư dân Việt với câu ca:

“Dù ai buôn đâu bán đâu,
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”

Nghi thức thờ tự ở chùa Dâu (và các chùa thờ “Tứ pháp” “Ngũ pháp” kể cả chùa Tổ Mãn Xá thờ phật mẫu Man Nương) là nét đặc trưng và tiêu biểu nhất của tín ngưỡng dân gian vùng Dâu. Trung tâm thờ tự tại tòa thượng điện không phải là nơi thờ Phật như thường gặp ở các chùa khác, mà đặt tượng Pháp Vân phía trước là tượng “Thạch Quang” hai bên là tượng Kim đồng Ngọc Nữ, tượng “Bà Đỏ” “Bà Trắng”… Đó là những di phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thế kỷ XVIII. Tòa hậu đường phía sau tòa thượng điện mới là nơi đặt thờ các pho tượng Phật thường thấy như A di đà, Quan âm, Thế chí, Phổ hiền bồ tát…

Nghi thức bày đặt các tượng thờ ở chùa Dâu với trung tâm là thờ Phật Pháp Vân đã cho thấy đây là ngôi chùa thờ nữ thần nông nghiệp được phật hóa thành Phật Pháp Vân rồi thánh hóa thành “Đại thánh Pháp Vân Vương Phật” thể hiện tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp lúa nước luôn luôn cầu mong thời tiết thuận hòa:

“Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng”.

Lễ hội Dâu là thời điểm tập trung và tiêu biểu nhất nghi lễ nông nghiệp trong hoạt động văn hóa tâm linh tín ngưỡng của cư dân vùng Dâu.

Lễ hội được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 âm lịch để kỷ niệm ngày sinh Phật mẫu Man Nương người đã sinh ra Đức Thạch Quang và Phật Tứ pháp. Ngày này trước đây được coi là ngày Phật Đản Việt Nam đồng thời cũng là thời khắc để người dân nhớ về chùa Dâu, nhớ về Tứ pháp, trở về nguồn cội với câu ca:

“Dù ai buôn bán trăm nghề,
Nhớ ngày mồng Tám thì về hội Dâu”

Đây chính là lúc người nông dân cầu mưa để lấy nước làm mùa và hội Dâu được coi là lễ cầu đảo của cư dân nông nghiệp vùng Dâu.

Lễ hội được 12 làng thuộc tổng Khương Tự, hay còn gọi là Tổng Dâu – nay là các làng thuộc các xã Thanh Khương, Hà Mãn, Trí Quả cùng phối hợp tổ chức nơi trung tâm chùa Dâu. Nghi thức lễ hội gồm việc rước tượng “Tứ Pháp” về “cộng đồng” tại chùa Dâu, tổ chức tế lễ, kể hạnh… Đặc sắc là nghi lễ rước và diễn tích trò “Mẹ đuổi con” và tổ chức “cướp nước” bằng việc rước kiệu các bà “Tứ pháp” chạy thi ra tam quan chùa. Nếu kiệu rước bà nào tới tam quan trước thì được nước và thắng cuộc. Thường thì kiệu bà Pháp Vũ ra trước và người dân quan niệm rằng năm đó sẽ được mùa.

Đến chiều mồng 8 thì tổ chức rước Phật “Thạch Quang” và phật Tứ pháp về chùa Mãn Xá vái tổ, rồi rước tuần nhiễu quanh các chùa thờ “Tứ Pháp” để các bà chia tay chùa nào về chùa ấy. Việc rước “tuần nhiễu” diễn ra vào ban đêm với không khí sôi động, náo nhiệt. Thời Lý – Trần, tượng Pháp Vân nhiều lần được rước ra Thăng Long để đích thân nhà vua làm lễ cầu đảo cho toàn dân.

Hội Dâu là lễ hội phật giáo lớn diễn ra tại tổ đình Phật giáo Việt Nam nhưng thực chất là sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân các làng xã thuộc châu thổ Bắc Bộ – cái nôi của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Đó là tín ngưỡng thờ nữ thần nông nghiệp được phủ lấp nhiều cơ tầng văn hóa nội sinh và ngoại sinh. Vì vậy hội Dâu không chỉ là nghi lễ nông nghiệp tiêu biểu mà còn là hoạt động văn hóa dân gian đậm đà bản sắc vùng quê Bắc Ninh – Kinh Bắc.

TS. Trần Đình Luyện – Phó Chủ tịch Hội sử học tỉnh Bắc Ninh
http://vanhoattdlbacninh.gov.vn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>