Trang chủ 5-PHÁP LÔI-VĂN HỘI Vài nét về sự ra đời thôn Văn Hội

Vài nét về sự ra đời thôn Văn Hội

1031
0

Ban biên tập Website Tứ Pháp xin trân trọng giới thiệu bài khảo cứu, dịch thuật về Tộc phả thôn Văn Hội của cụ Trần Bá Lạn. Đây là một tác phẩm nghiên cứu đầy tâm huyết của một hậu duệ dòng họ Trần với ước nguyện tìm về cội nguồn, tri ân công đức của các bậc tiền nhân. Được phép của lãnh đạo Đảng, Chính quyền thôn Văn Hội, tác giả mặc dù đã 87 tuổi nhưng vẫn miệt mài tra cứu nhiều tư liệu của thôn để viết tác phẩm này. Đây là nhiệt huyết của một vị cao niên nhằm đóng góp cho quê hương để hậu thế biết về nguồn cội Tổ tiên. Ban biên tập xin tri ân công đức của cụ, chúc cụ “An khang, trường thọ” và xin trân trọng giới thiệu với độc giả.

 Anh 1

Vài nét về
SỰ RA ĐỜI THÔN VĂN HỘI

Tháng 6 năm 2016, trong một lần mở Website Tứ Pháp, mục:“Pháp Lôi–Văn Hội”, tìm đọc phần“ Gia phả và Tộc phả làng Văn Hội”, thấy  mục  này  còn để trống trơn !  Vì vậy, tôi quyết định viết lên bài này. Những  mong  có thể  đáp ứng được phần nào trên trang web có đề mục trên.
LỜI TRÌNH BÀY
Là thế hệ sinh sau, hậu duệ nhiều đời của thôn Văn Hội, ước nguyện tìm lại cội nguồn, quả thực là một vấn đề quá khó ! Song với tâm thức hướng về cội nguồn, tri ân công đức các bậc tiền nhân khai phá, lập nên một vùng thôn dã ở một điểm hoang sơ, tôi mong muốn ghi lại đôi nét về sự ra đời của một vùng quê yêu dấu mà ngày nay đã có tới mấy ngàn nhân khảu, và đang trên đà phát triển chung của đất nước.
Với một số tư liệu hạn hẹp, nhưng đáng tin cậy, có thể hiểu được một phần về hoàn cảnh ra đời của thôn Văn Hội. Đó là một thôn ấp được tách ra cách đây khoảng 5 thế kỷ, sau các thôn trong xã, kể cả từ Văn Giáp đến Bình Vọng. Lịch sử đã xác minh, Văn Hội được tách ra từ Văn Giáp vào khoảng cuối thời Lê sơ (cuối thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 16).
Ở tập này, để trình bày được phần nào việc khai sinh ra thôn Văn Hội, xin được lấy căn cứ từ những tư liệu của thôn và đặc biệt là những đoạn văn từ trong bản gốc TỘC PHẢ TRẦN ĐẠI TÔN, cùng Bài PHÚC HỘI TỰ BIỂN KÝ  (Bài ký ghi lên bảng về Chùa Phúc Hội)  – tác phẩm của cụ Tĩnh Trai, đời thứ 12, ghi trong Gia phả Ất chi Trọng phái, họ Trần – thôn Văn Hội.
Để có cơ sở đối với việc khảo cứu về sau, xin mở đầu bằng việc khảo cứu các công trình của nhiều học giả nghiên cứu về thủy văn, thủy lợi, về hệ thống Đê sông Hồng… để xác định tiền sử địa bàn thôn Văn Hội. Kế đó, tái hiện lại một bộ phận bản gốc các gia phả họ Trần thôn Văn Hội ghi về sự ra đời của thôn bằng chữ nho, kèm phần dịch thuật sang văn xuôi,  một số ý kiến về họ Đào thời tiền sử thôn Văn Hội, hình ảnh minh họa, cùng đôi lời giải trình về nội dung có liên quan và phần phụ lục của đề tài này.
Với điều kiện hạn chế về tư liệu và khả năng thể hiện, song với lòng mong muốn góp phần tái hiện về hoàn cảnh ra đời gian nan của thôn Văn Hội cách đây chừng năm thế kỷ, để có được cuộc sống ngày nay, tôi mạnh dạn ghi ra ít trang này. Rất mong được bạn đọc xa gần tham gia ý kiến, bổ sung cho những thiếu sót không mong muốn. Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, mùa thu năm Bính Thân 2016
Hậu duệ đời thứ 16 –  chi Bính – họ Trần thôn Văn Hội
Trần Bá Lạn

MẤY SUY NGHĨ VỀ TIỀN SỬ LÀNG VĂN HỘI

Trong Hồi ký về việc dựng Chùa Phúc Hội (chùa Văn Hội) cách  nay chừng 200 năm (1), cụ Tĩnh Trai đã mô tả vị trí được xác định để dựng Chùa là “lấy chân long, phúc âm hương hỏa, khoanh một vùng riêng biệt, xuyên sơn bình địa, sáng lập nên ngôi tòa sáng sủa, đẹp đẽ trên thế gian ( chữ nho = 創 成 華 世 界 明 堂 : sáng thành hoa thế giới minh đường). Khi dựng xong, “ngôi chùa đã trương biển cao đề rõ PHÚC HỘI TỰ dựng trên núi Phúc Sơn”.(2)
Qua đoạn văn cô đọng và xúc tích ấy thấy rằng, Chùa Phúc Hội xưa đã dựng ngay giữa vùng gò đồi, mà điểm cao được gọi là núi “Phúc sơn”
Khi còn hoang sơ, chưa có người ở, vùng này đã nổi lên những gò đồi, hình thành một triền gò đống nhấp nhô, kéo dài song song, lại so le theo hướng xuôi của sông Hồng, cách bờ sông ngày nay trên dưới 1 cây số. Dấu tích ấy, trong thế kỷ 20 vẫn còn một loạt gò, như gò xây Chùa Cửi – phía đông-bắc thôn Văn Giáp, rừng Cấm – phía tây-bắc thôn Văn Hội …Cuối thôn Văn Hội ngày nay vẫn tồn tại một chuỗi gò, được gọi là “khu Mả Và”(3) nối liền từ phía nam thôn Văn Hội đến giáp phía bắc thôn Bình Vọng (chừng gần 1 cây số). Áp vào chuỗi gò Mả Và, còn nhô lên một quả gò, được gọi là Gò Thổ phụ. Còn phần trung tâm của thôn, nơi dựng Chùa Phúc Hội có núi Phúc Sơn. Từ tình hình ấy, có thể hình dung, thôn Văn Hội được hình thành trên một chuỗi gò, rừng rậm hoang vắng, không người ở, đã được san bằng hình thành nơi cư trú.
Theo các nhà thủy văn, địa chất học, trong hàng triệu năm về trước, nơi đây nằm ở địa thế hạ lưu sông Hồng, là vùng nước biển dềnh lên. Vào mùa mưa, nước sông Hồng đem theo phù sa (4) lấp đầy dần, tạo nên vùng đồng bằng sông Hồng. Dân cư ban đầu chỉ đắp bờ vùng, bảo vệ theo từng cụm dân sinh sống. . .
Tới thời Ngô Quyền giành độc lập thế kỷ thứ 10, đất Thăng Long mới được chú ý đắp đê bảo vệ kinh thành chính thời bấy giờ.  Năm 1108, Nhà Lý đã cho đắp đê phường Cơ Xá để bảo vệ Thăng Long. Tới Triều Trần, việc đắp đê đã đặt ra để sản xuất vụ lúa chiêm.  Khi hết thời vụ lại cho nước tràn vào. Thời Lê sơ, đê được đắp lớn hơn. Nước lũ bị ngăn lại, dòng nước tràn về trở nên hung dữ. Đến Triều Nguyễn, nạn ngập lụt xảy ra triền miên . . .
Khi hệ thống đê sông Hồng chưa có, đến  mùa nước chỉ ứng phó từng mảng một. Nước nguồn mùa mưa trút xuống, bão lũ tự do tràn về vùng trũng. Lượng phù sa đặc dồn về, bị chặn lại bởi các cánh rừng hoang, lắng đọng, bồi dần, tạo nên những gò đống. Cảnh tượng đó cũng là tiền sử của địa bàn mà sau này hình thành thôn Văn Hội. Đó là vùng hữu ngạn sông Hồng áp sát huyện Thanh Trì, phía nam thành Thăng Long.

MỘT SỐ CỨ LIỆU
VỀ SỰ HÌNH THÀNH LÀNG VĂN HỘI
TỪ HỒ SƠ GỐC GIA PHẢ HỌ TRẦN

A.- TỘC PHẢ DÒNG TRƯỞNG HỌ TRẦN
Tộc phả Trần Đại tông (dòng trưởng họ Trần) có ghi lại dấu tích về thời gian  sao chép và lập cuốn Gia phả này với 4 câu sau đây:
Hoàng Nam Thành Thái thập lục niên tuế.
Giáp Thìn Trung thu hậu Trần triều Chiêu minh.
Đại vương phụng ký. Hưng Đạo thân vương phụng nhuận.
Văn Hội phái hệ đẳng phụng lục.(5)
Bốn câu trên được hiểu như sau:
Hoàng Nam Thành Thái (1889-1907) năm thứ 16, (tức năm1904)
Triều đại hậu Trần Chiêu Minh, trung thu năm Giáp Thìn
Đại vương kính cẩn ký. Hưng Đạo thân vương duyệt  y .
Phái hệ (dòng họ)Văn Hội trân trọng sao lục.
Từ 4 câu ấy nhận thấy: phả hệ họ Trần thôn Văn Hội đã sao lục những đoạn văn, lời thơ…xuất xứ từ thời đại Chiêu Minh.
(Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải = 1241-1294).
Trong đợt khảo cứu này, chúng tôi không thấy các văn bản gốc để lại từ xưa trong hồ sơ, mà chỉ có từng đoạn sao chép từ ĐỀN TRẦN – Tức Mặc gắn kết vào gia phả. Song, nhận thấy, từ tính chất nghiêm cẩn của Gia phả họ Trần, có thể coi những ghi nhận sau đây về sự khởi thủy LÀNG VĂN HỘI là căn cứ đáng tin cậy.
Anh 2
Về vị trí địa lý:
+  Văn Hội nằm ở vị trí giữa cánh đồng, bên tả là Văn Giáp (áp sát đường số 1 và đường sắt bắc – nam), cách trung tâm Hà Nội từ km 17 đến km 18
+. Bên hữu cách đê sông Hồng trên dưới một cây số.
Về cứ liệu:
+  Hầu hết hồ sơ lưu trữ từ xưa ghi chép bằng chữ Hán. Người đọc hồ sơ cổ quá hiếm. Đó là một thiệt thòi về sự tiếp nối thông tin trong các dòng tộc. Cuốn gia phả gốc họ Trần thôn Văn Hội biên soạn từ năm 1904 là di cảo quý hiếm với dòng họ và phần nào với toàn thôn, bởi đã ghi được những nét chính về thời điểm hình thành thôn cách đây chừng 5 thế kỷ. Hơn nữa, còn ghi được một số lời thơ, lời răn của Đức Thánh Trần và Đức Chiêu Minh Đại vương sao chép từ Đền Trần ở Tức Mặc (Nam Định)…
Anh 3
Anh 4
Phần dịch sang văn xuôi

NGUỒN GÔC HÌNH THÀNH THÔN VĂN HỘI
QUA DẤU TÍCH TRONG GIA PHẢ HỌ TRẦN VĂN HỘI(7)

Cụ Phúc Thiện, là cụ thủy tổ họ Trần thôn Văn Hội, tự Phú Lương là:
“ dòng dõi họ Trần, hương Tức Mặc (8), sau di cư đến thôn ngoại, phía đông xã Văn Giáp. Phía đông – bắc giáp địa đầu thôn Xâm Động, Bằng Sở, huyện Thanh Trì ( xưa  là huyện Thanh Đàm ).
Dân thôn sống về nghề nông. Cứ đến mùa thu hoạch thì phần nhiều bị bọn côn quăng trộm cướp mất sạch thóc lúa. Thế là đã bỏ bao nhiêu công sức cày cấy khó nhọc mà không mong thu hoạch được máy may, khiến nhân dân địa phương khôn siết khổ cực. Các cụ phụ lão bèn tập hợp dân chúng lại mà bàn rằng: “Trong địa phương ta, nếu ai trấn áp cầm bắt được đảng gian, đem lại trật tự  an ninh cho nhân dân thì cả ấp sẽ hậu thưởng để đền đáp công lao?”
Cụ Phúc Thiện thưa rằng: “ việc trừ tai vạ, dẹp mối lo cho dân, tôi tình nguyện làm được. Vì dân mưu lợi thì hà tất phải hậu thưởng. Tôi ở đất này ắt có khả năng trấn áp những kẻ manh động để cùng các cụ phụ lão chia sẻ mối lo. Nhìn về phía các con em, cụ nói tiếp: “ Nào ai sẽ cùng ta đi bắt trộm cắp? Nói vừa dứt lời thì một người họ Đào đáp: “ Tôi xin đi theo!” …(9)
Thế rồi cụ chọn ngày lành dời nhà đến nơi đây. Thày trò vài người đắp nền, dựng nhà, rồi dắt vợ con đến ở vậy.
Thời thường huy động dân đinh phu truy kích quân gian, lần nào cũng bắt được nhiều. Do đó, nạn trộm cướp mất hẳn. Chúng không còn dám xâm phạm bờ cõi. Từ đó về sau, dân chúng, nhiều người lục tục đưa gia đình đến ở, kể có gần 30 nhà. Nhân đó làm đình sở để thờ thần và dùng làm nơi hội họp. Bèn xin biệt lập thành một thôn, đặt tên là thôn VĂN HỘI. Hộ khẩu ngày một đông. Sau trở thành một ấp lớn. Văn học rất mở mang. Nơi đây kết quả thành một làng Văn hiến, đời đời đỗ đạt và họ Trần chúng ta đã trở thành một họ nổi tiếng phát đạt ở địa phương…  (10)
Đoạn văn gạch dưới ở trên đây là ghi nhận thời kỳ đầu hình thành làng Văn Hội, mà phần trên đoạn này là những tình tiết dẫn dắt để đạt tới một sự kiện lịch sử: Sự ra đời THÔN VĂN HỘI cách đây chừng năm thế kỷ.
Vì chưa có được một tài liệu chuẩn xác nào về những tháng năm ra đời ấy, nên xin
tạm dừng truy cứu, mà phân tích trên bình diện cho phép.
Đó là thời điểm Nhà Trần suy yếu năm 1400. Chừng ít nhiều thập kỷ sau, không ít
nhánh dòng dõi họ Trần đã đổi họ để tránh rủi ro. Riêng cụ Phúc Thiện từ Tức Mặc dời
lên xã Văn Giáp một thời gian, rồi cùng họ Đào và sau đó một số gia đình cùng dời
vào miền đất hứa để sinh cơ lập nghiệp.
Theo tư liệu có được sau khi thôn Văn Hội hình thành, gia phả dòng Trần Đại tôn xác lập: cụ Phúc Thiện là đời thứ nhất (thủy tổ của toàn họ). Nhờ được trào lưu văn học phát triển, việc học hành trở thành nền nếp, nổi nhất là ở phái Trọng, chi Ất, họ Trần thôn Văn Hội. Tới đời thứ 9, cụ Trần Trọng Liêu đỗ Tiến sĩ năm 1733 (11).Bởi lẽ ấy,việc lập gia phả đã có nền nếp. Nhờ đó đã rõ cụ sinh ngày 13/12 Ất Hợi, tức năm 1696. Xin lấy mốc này, tính ngược lại 8 đời tổ, bình quân mỗi đời chừng 25 năm. Riêng đời thứ 1: cụ Phúc Thiện, cũng có thể ít hơn 25 năm, thì Văn Hội được hình thành vào cuối thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 16.

*
*    *

B.- CỨ LIỆU GHI TRONG CHÍNH PHẢ VĂN TỰ ẤT CHI TRỌNG PHÁI – HỌ TRẦN  THÔN  VĂN HỘI (12)
Trong PHẦN GIA PHẢ HẠ  của Chính phả văn tự – Ất chi Trọng phái  có lưu lại bài  “Phúc Hội Tự biển ký” của Tú Lâm cục Tĩnh Trai công (1771-1837). Tác giả đã vào đề băng đoạn văn mô tả sự ra đời của thôn Văn Hội trước khi   mô tả việc xây dựng Chùa Phúc Hội (tức Phúc Hội Tự).
Ngay sau tiêu đề “Phúc Hội Tự biển ký”, mở bài được tác giả mô tả ngay về sự hình thành thôn Văn Hội. Toàn văn phần mở bài này như sau:
“. . .  Được biết họ Trần ta trước kia từ trấn Nam Hạ(12) rời lên xã Văn Giáp đã một số đời. Ở phía đông của xã, thấy cánh đồng hoang không người ở. Có khe nước chảy từ ngoài huyện tới. Dân tình bàn nhau tách khỏi Văn Giáp, kéo ra đó làm ruộng. Khi được mùa, lúa tốt, hầu như bị bọn vô lại cướp đoạt, khiến cho dân tình bỏ công cày cấy khó nhọc, nhưng rồi tới vụ thu hoạch, không còn được là bao.
Tổ tiên ta cùng họ Đào đã ra ở đó, rồi các gia đình kéo theo tới ngày một đông, bảo vệ, che chở, giúp đỡ nhau cấy cày, có thu hoạch tốt, nên dần dà nhiều người đến lập cư, tụ hội, mở mang thành một ấp, rồi định ước tách thành thôn Văn Hội.
Ruộng đồng tốt, chăn nuôi được, bảo ban nhau dạy học trở thành nền nếp. Cuộc sống dần dần yên ổn. Người theo vào ngày một tăng thêm lên…”

PHẦN MỞ ĐẦU BÀI “PHÚC HỘI TỰ BIỂN KÝ” ( CHỮ HÁN)
GHI NHẬN SỰ RA ĐỜI THÔN VĂN HỘI
(chuyển lối ghi theo hàng dọc ở bản gốc thành hàng ngang, cài thêm âm Hán-Việt)

Anh 5Anh 6 Hình  trên:   Chùa Phúc Hội –  thôn Văn Hội, mới hoàn thành đại tu trước cuộc Đại Lễ
khánh thành Ngôi Tam Bảo và Tổ đường 16/11 Ất Mùi (2015).

LỜI  KẾT

Những cứ liệu từ các học giả về thủy văn, địa chất học…, cùng gia phả họ Trần thôn Văn Hội là những tư liệu quý hiếm để xác định sự hình thành thôn Văn Hội. Ở đó,  nổi lên mấy điểm:
1)- Tiền sử nơi đây là cánh đồng xen lẫn gò đồi, rừng rậm hoang vu , có mặt nền cao hơn vùng trũng, lại có dòng nước từ Hạ Thái dồn về tới đất Bình Vọng, nằm ở phía đông Văn Giáp là tiền đề hình thành một vùng dân cư mới ngay giữa cánh đồng rộng mênh mông, chỉ lấy sức san ra, không phải đào ruộng đắp nền.
2)- Lịch sử xác minh ban đầu dòng họ Đào vươn ra khai phá đất hoang để cấy lúa, trồng màu…nhưng không người trông nom tại chỗ, nên hoa lợi thất thoát triền miên. An ninh sản xuất của bà con trông vào hạt lúa củ khoai…trở nên bức xúc, mà chưa tìm được giải pháp thu hoạch hữu hiệu !
3)- Đứng trước nạn trộm cắp hoa màu vào vụ thu hoạch, theo lời kêu gọi của địa phương cần người đứng ra dẹp nạn, cụ Phúc Thiện đã nhận trách nhiệm, với lòng hào hiệp, cùng họ Đào hợp lực, rồi có thêm nhiều người cùng theo, tới làm nhà ở để canh giữ, bảo vệ hoa màu, xua tan bọn côn quăng. Đời sống, sản xuất và thu hoạch dần dần ổn định …
4)- Khi có tới 30 nhà đến ở, đã tạo thành một cộng đồng gắn bó, đồng thuận bảo ban nhau làm ăn, học tập, rồi cùng nhau dựng Đình thờ thần và làm nơi hội họp. Từ đấy định ước tách khỏi Văn Giáp, lập thành một thôn ấp mới lấy tên là VĂN HỘI. Gia phả họ Trần thôn Văn Hội từ đó đã xác định Cụ Phúc Thiện là đời thứ nhất của họ Trần toàn thôn. Tới nay, họ Trần đã gia tăng tới đời thứ 19. Có nhánh sớm hơn, đã tới đời thứ 20. ( 19 đời x 25 năm/đời = 475 năm – tương ứng năm thế kỷ) .
5)- Thời gian định hình thôn Văn Hội, chưa có được một tư liệu cụ thể nào. Xét trên bình diện gia tăng của gia phả họ Trần tới đời thứ 9, đã ghi ngày sinh của cụ Tiến sĩ Trần Trọng Liêu là 13/12 năm Ất Hợi, tức 17/1/ 1696. Tính ngược lại 8 đời, ước chừng trên dưới 200 năm. Vậy, sự hình thành thôn Văn Hội ở trong khoảng từ cuối thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 16.
Đó là những sự khởi đầu, một vùng đất, một khoảng trời tích phúc mà thiên nhiên đã dành cho nhân dân Văn Hội suốt 5 thế kỷ  qua.
Nhận định về Văn Hội, nơi “đất lành chim đậu”, cụ Tĩnh Trai đã ghi rằng: “… người người kéo về ngày một đông, thụ hưởng thời vận đi lên, nơi các văn sĩ toàn tâm, toàn ý hội tụ phúc lành, dựng nên cuộc sống, nổi danh vùng đắc địa, lập thành thôn ấp phú cường. Ấy chính là khoảng trời đất cho thôn ta vậy!”. Quả vậy, nên khi dựng được ngôi chùa của thôn, biển đã được trương cao, đề rõ “Phúc Hội Tự”.
Rồi từ hình ảnh đẹp khi hình thành thôn Văn Hội ấy, cụ đã chốt lại tác phẩm bằng lời kết: “Ấy là thành quả phúc lành vậy!”

* * *

PHU LUC I
PHIÊN BẢN KHỔ LỚN: BÀI KÝ VỀ CHÙA PHÚC HỘI
DÂNG CHÙA NGÀY 18-3 NĂM  ẤT MÙI (2015)
Anh 7

Hình trên: Ô chính giữa = nguyên bản chữ Hán lưu trong gia phả họ Trần – Văn Hội.
Bên  trái  =  Bài ký kèm âm Hán – Việt.    Bên phải  =  Bài ký dịch sang văn xuôi.
Biên dịch, lên trang: Trần Bá Lạn. Lập phiên bản lớn + ghi hình: Trần Trọng Dũng

PHÒNG TIẾP TÂN CHÙA PHÚC HỘI
NƠI TRƯNG PHIÊN BẢN ‘ PHÚC HỘI TỰ BIỂN KÝ’

Anh 8
Ghi hình: Trần Thanh Tú

Bản gốc bài ký trong hồ sơ được lưu trong Gia phả hạ trên giấy dó. Sau khi phát hiện thấy cuốn Gia phả này có bản chính và bản sao. Bản sao ghi 3 chữ với tiêu đề : PHÚC HỘI TỰ. Bản chính, tiêu đề ghi PHÚC HỘI TỰ BIỂN KÝ. Chúng tôi chọn tiêu đề đầy đủ của bản chính để lập phiên bản dâng Chùa, nhằm giữ đúng di huấn của Tổ tiên.

TOÀN VĂN BẢN DỊCH BÀI KÝ VỀ CHÙA PHÚC HỘI
Tú Lâm Cục Tĩnh Trai Công (1771-1837) đời 12, họ Trần thôn Văn Hội

BÀI KÝ VỀ CHÙA PHÚC HỘI(13)

Được biết họ Trần ta trước kia từ trấn Nam Hạ(14) rời lên xã Văn Giáp đã một số đời. Ở phía đông của xã, thấy cánh đồng hoang không người ở. Có khe nước chảy từ ngoài huyện tới. Dân tình bàn nhau tách khỏi Văn Giáp, kéo ra đó làm ruộng. Khi được mùa, lúa tốt, hầu như bị bọn vô lại cướp đoạt, khiến cho dân tình bỏ công cày cấy khó nhọc, nhưng rồi tới vụ thu hoạch, không còn được là bao.
Tổ tiên ta cùng họ Đào đã ra ở đó, rồi các gia đình kéo theo tới ngày một đông, bảo vệ, che chở, giúp đỡ nhau cấy cày, có thu hoạch tốt, nên dần dà nhiều người đến lập cư, tụ hội, mở mang thành một ấp, rồi định ước tách thành thôn Văn Hội.
Ruộng đồng tốt, chăn nuôi được, bảo ban nhau dạy học trở thành nền nếp. Cuộc sống dần dần yên ổn. Người theo vào ngày một tăng thêm lên.
Trào lưu văn học từ tổ tiên cha ông ta đã nổi lên cả trong lẫn ngoài.
Các bậc tiền nhân từ đó đã chọn lựa một bộ phận trong dân có năng lực, lại cường tráng trong thôn ấp đứng ra xây dựng chùa, lấy chân long, phúc âm hương hoả, khoanh một vùng riêng biệt, xuyên sơn bình địa, lập nên ngôi tòa sáng sủa, đẹp đẽ trên  thế gian (chùa Văn Hội – ND), mở ra mặt trước, có mặt nước đẹp, có rặng cây lan, lại có khí kết. Dòng nước bao quanh, bốn bề gió thổi, thay đổi cảnh quan xưa cũ, tạo nên sắc thái mới. Nhân dân gom góp tiền của, mở chợ ngoài trời ở mé bên tả, kề bên THẦN ĐÌNH ở bên hữu, mở mang phúc lành, làm nơi tế lễ trời đất sáng sủa, hoa chuông tụ khí lành, càn vị sơn cao tăng thọ, nhằm tạo cho dân lấy nơi cầu phúc, làm ăn yên ổn, đời sống hưng thịnh. Công việc tinh toán cung thuỷ, vật liệu dựng được cân nhắc kỹ càng, khơi sâu dòng nước sông, đưa dòng nước chảy xoáy vào, lại tính toán việc đóng mở nước từ Hạ Thái dồn về tới đất Bình Vọng văn minh, giữ lại mạch trời đất, ngọc khí, mở ra hai khu thờ (Đình và Chùa – ND) rõ ràng sấm dậy linh thiêng. Dân xuất ra cả kho của cải, cẩn trọng kín đáo.Thượng phúc chuông quý rồng bay, khí vận uyển chuyển mà hợp lại nơi tế thần. Văn Hội thay vì Văn Giáp đã mở ra nho khoa hoành tráng như vậy!
Ngôi chùa đã trương biển cao đề rõ “PHÚC HỘI” ở trên Phúc sơn(15), thể hiện rõ miền quê Văn Giáp toại nguyện thực tại lưu truyền đức độ sâu dày, phong độ cởi mở, khai thông khí mạch. Người người kéo về ngày một đông, thụ hưởng thời vận đi lên, nơi các văn sĩ toàn tâm, toàn ý hội tụ phúc lành, dựng nên cuộc sống, nổi danh vùng đắc địa, lập thành thôn ấp phú cường. Ấy chính là khoảng trời đất cho thôn ta vậy!
Thực, ngôi chùa này là biểu tượng miền quê hương “hội phúc” của chúng ta. Đó chính là thắng lợi vẻ vang, nơi danh lam, nơi hội phúc, mở mang thêm cái trước, tô điểm trang hoàng cho đời sau của ta vậy! Đó là nơi hướng lòng người ý chí từ bi. Kế tiếp đến năm Nhâm Ngọ (Minh Mệnh năm thứ ba – 1822), chùa được hỗ trợ công đức, tiền của để lập tượng thờ. Đến năm Quý Mùi (Minh Mệnh năm thứ tư – 1823) lại được trùng tu vẹn toàn.
Ấy là thành quả phúc lành vậy!

*
*   *

PHU LUC II
MỘT VÀI HÌNH ẢNH THÔN VĂN HỘI NGÀY NAY

Anh 10
Cổng trung tâm thôn Văn Hội, trang trí chào mừng lễ hội truyền thống 2016
Anh 11
Nhà văn hóa, sân vận động thôn Văn Hội, tọa lạc ở mé phía Bắc cổng trung tâm
Anh 12
Tam quan Chùa Phúc Hội, phục dựng năm 2015
Anh 13
Đền Pháp Lôi-Văn Hội, được nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hóa cùng nhiều sắc phong của các triều đại xưa
Anh 14
Văn chỉ thôn Văn Hội, di tích lịch sử văn hóa khởi nguồn từ thời Hậu Lê, trùng tu năm 2014
Anh 15
Chợ sớm họp trước cửa đình thôn Văn Hội. Ảnh Trần Bá Lạn

____________________
Ghi thêm: Tập sách là một công trinh tổng hợp được hình thành sau nhiều cuộc khảo cứu, dịch thuật và tiếp cận các sự kiện văn hóa-xã hội ở quê hương từ 2001-2016 cùng ý kiến bổ sung của Chi Hội Người cao tuổi Văn HỘi về sự xuất hiện sớm của họ Đào
Anh 16 ——————————–
CHÚ THÍCH BÀI VIẾT
(1)  Trong Gia phả Hạ, Chính phả văn tự – Ất chi Trọng phái, họ Trần ( Văn Hội).
(2) Tác phẩm: PHÚC HỘI TỰ BIỂN KÝ, của Tú Lâm cục Tĩnh Trai công (1771-1837), đời thứ 12, họ Trần – Văn Hội, hồ sơ đã dẫn.(Xem  Phụ lục ở cuối tập).
(3) Dãy gò ở phía Nam thôn, cao nhất là Gò Thổ phụ, được dân quân địa phương đặt súng phòng không thời kỳ chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc  (1965-1972).
(4) Xem “ Đê sông Hồng ”- Bách khoa toàn thư, mở Wikipedia tiếng Việt.
(5)Trích trong bài “ Sùng tu Từ đường thực lục” Tộc phả Trần Đại tông ( Nhà thờ dòng trưởng họ Trần, thôn Văn Hội, huyện Thường Tín, ngoại thành Hà Nội).
(6) Chữ Tông “  宗  ” sau này đọc là Tôn để tránh tên húy đời vua Minh Mệnh (Từ điển Đào Duy Anh. NXB Trường Thi, Saigon, in lần thứ ba, tr. 308).
(7)  Tộc phả ghi nhận: Cụ Phúc Thiện cùng họ Đào từ xã Văn Giáp lên ở và dẹp yên được nạn trộm cắp, dần dà nhiều gia đình theo đến ở , rồi lập thôn  THÔN  VĂN HỘI. Nay:
+  Mộ phần các cụ Tổ họ Đào và họ Trần ở phía nam thôn là chứng tích để đời mãi mã.i
+  Họ Trần, họ Đào cùng các họ ở thôn luôn giữ gìn truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau.
(8)Tức Mặc:nơi phát tích Nhà Trần xưa, thuộc phường Lộc Vượng, Nam Định, từ 1695 là nơi lập đền thờ các vua Trần.(Xem Bách khoa toàn thư, mở Wikipediat tiếng Việt)
(9)Theo hồ sơ ghi lại: tổ tiên họ Đào là lớp người khai phá ruộng đất hoang từ khi chưa  lập thôn.
(10)Trích bài “ Sùng tu Từ đường thực lục” Tộc phả Trần Đại tông ( Nhà thờ dòng trưởng họ Trần, thôn Văn Hội, huyện Thường Tín, ngoại thành Hà Nội
(11) Cụ Tiến sĩ Trần Trọng Liêu, thụy Ôn Hậu, đời thứ 9, họ Trần thôn Văn Hội, sinh ngày 13-12 năm Ất Hợi (17-01-1696), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân năm Quý Sửu – 1733,
được vinh danh năm 1734 trên bia số 66 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.
(12)Họ Trần thôn Văn Hội, đến đời thứ 5 chia ra 3 chi: chi Giáp(Đại tôn), chi Ất và chi Bính.
Chi Ất đến đời thứ 7, tách ra hai phái: phái Bá (trên), phái Trọng (dưới) duy trì đến ngày nay.
Trong văn tự thường ghi: Ất chi Bá Phái và Ất chi Trọng phái. Cả hai đều có nhà thờ riêng.
(13)  Bài ký đã ra đời gần 200 năm trước, trong Chính phả văn tự -Ất chi Trọng phái, họ Trần, thôn Văn Hội, hồi ký lại thời kỳ lập ra thôn Văn Hội.
(14) Trấn Nam Hạ thuộc tỉnh Nam Định ngày nay.
(15) Trước đây, khi còn hoang sơ, vùng này có nhiều gò đống, do lũ lut tạo nên

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here