Bài ký trên bia Tiến sĩ số 66, Văn Miếu Quốc Tử Giám, khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733)

0
694

BÀI KÝ TRÊN BIA TIẾN SĨ SỐ 66, VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM, KHOA QUÝ SỬU NIÊN HIỆU LONG ĐỨC 2 (1733)
 Theo bản dịch trong cuốn “Văn Miếu – Quốc Tử Giám và 82 Bia Tiến sĩ” của Ngô Đức Thọ

Từng nghe nước nhà tô diểm trị bình, ắt tìm kiếm người hiền để làm trụ cột; triều đình chấn hưng văn giáo, tất phải biểu dương việc thiện để gây dựng tiếng tăm, thế thì điển lệ đề tên tiến sĩ cũng do ở lẽ đó chăng?

Kính nghĩ Hoàng thượng bệ hạ đảm đương mệnh sáng, nối giữ cơ nghiệp lớn lao, tiếp vừng đông chiếu rọi bốn phương, xem nhân văn để giáo hoá thiên hạ. Thực nhờ <Đại nguyên suý thống quốc chính thượng sư Uy vương> cùng chung một đức, trăm việc chấn hưng, sửa sang thái bình, rộng tìm tài tuấn. Mùa xuân năm Quý Sửu, tháng 3, thi Hội các cống sĩ trong nước. Đặc sai bề tôi là Đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thiếu bảo Siêu quận công Nguyễn Minh Châu làm Đề điệu, Bồi tụng Lại bộ tả thị lang nhập thị kinh diên Lại Trạch hầu Phạm Đình Kính làm Tri cống cử, Bồi tụng Hộ bộ hữu thị lang Xuân Trì hầu Đỗ Lệnh Danh, Hình bộ tả .thị lang Nguyễn Trọng Thường làm giám thí, cùng các ty trong ngoài chia giữ các việc.

Lúc bấy giờ sĩ tử đăng tên dự thi gần 3.000 người, chọn được hạng xuất sắc là bọn Nguyễn Hồ Quýnh 18 người. Ngày tháng 5 triệu vào thi Điện, ban cho Nhữ Trọng Đài đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh; Trần Trọng Liêu, Nguyễn Hồ Quýnh đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Kỳ Nhậm 15 người đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Gọi loa xướng tên ở thềm rồng, treo bảng vàng tại nhà Thái học, ban áo mũ triều phục, cho hoa bạc yến Quỳnh, thứ lớp ban ơn nhất nhất đều theo điển chương phép cũ, mà việc khắc đá đề tên cũng theo đúng lệ xưa. Đặc sai từ thần soạn bài văn để ghi sự thật.

Thần kính vâng lời ngọc, khôn xiết hân hạnh vui mừng, kính cẩn cúi đầu dập đầu dâng lời rằng:

Qua các triều đại khoa thiTtiến sĩ đều được tôn trọng, nhưng việc khắc đá đề tên để truyền lại lâu dai, thì trước chưa thấy.

Ngước nghĩ quốc triều mở vận, thánh đế thánh vương kế nối đều tôn trọng người tài giỏi tuấn tú, yeu chuộng nho nhã. Bia đề danh Tiến sĩ bắt đầu có từ năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức, lại từ khoa Canh Thìn niên hiệu Quang Hưng về sau được truy lập vào năm Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh, cho đến ngày nay, đã trở nên một điển lệ tốt đẹp. Cạnh nhà Thái học san sát bia cao, bên dòng nước xanh danh thơm bay mãi,rạng rỡ chẳng khác nào cờ thái thường đua ánh giữa bầu trời. Sự khuyến khích khen thưởng, công hun đúc giáo hoá thật đã vượt qua đời trước nhiều lắm.

Kẻ sĩ sinh ở đời này, thấm nhuần ơn huệ, mang đội nhân sâu, vậy báo đáp phải nên thế nào? ắt phải có chí khí, tiết tháo ngọc vàng, tấm lòng trung trinh sắt đá, phải luôn chau chuốt cho trong sạch sáng quang, rèn dũa tiết hạnh, thề giữ đức trong trắng tứ tri (1), theo đúng đạo thận cần tam pháp (2), lấy chính trực trung hậu mà đứng giữa triều đình, lấy đạo đức nhân nghĩa phò tá chính sự, làm đá tảng cột trụ ở chốn miếu đường, đưa quốc gia đến chỗ vững yên như Thái sơn bàn thạch, ngõ hầu không phụ với sở học, không thẹn với khoa danh, mà họ tên khắc trên đá cũng có thể trường tồn không nát vậy.  Thảng hoặc có ai đó mà lời nói không đi đôi với việc làm, danh thực trái nhau, thì vết nhơ trên ngọc không thể mài mòn, tì vết không sao che dấu được! Người ta sẽ chỉ vào tên mà bình phẩm, công luận nghiêm xét, há chẳng khá sợ hay sao? Thế thì tấm bia này dựng lên, chăng phải chỉ riêng làm vẻ vang cho người thi đố, mà còn để gửi gắm sự khuyến miễn đối với sĩ phu. Tác thành có nguyên do, quan hệ đến nền giáo hoá, công dụng của nó đâu phải là nhỏ !

Thần kính cẩn làm bài ký.

Trung trinh đại phu Hàn lâm viện thừa chỉ Nguyến Quán Giai vâng sắc soạn.

Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu tham tụng Hình bộ thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ tri Hàn lâm viện sự thiếu bảo Thuật quận công Phạm Khiêm Ích vâng sắc nhuận.

Hoàng Việt niên hiệu Long Đức thứ 3 (1734) ngày 19 tháng 12 dựng bia.

            Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh:

Nhữ Trọng Đài  汝仲台: xã Hoàng Trạch, huyện Đường An, Giáo thụ.

            Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, hai người:

Trần Trọng Liêu  陳 仲 寮 : xã Văn Giáp, huyện Thượng Phúc, Huấn đạo

Nguyễn Hồ Quýnh 阮 胡 熲 : phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức, Nho sinh trúng thức.

            Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, 15 người:

Nguyễn Kỳ Nhậm 阮 其 任: xã Lê Xá, huyện Chương Đức, Nho sinh trúng thức.

Trần Công Hàn  陳 公 昕 : xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, Tri huyện.

Phan Như Khuê 潘 如 圭  : xã Yên Trung, huyện La Sơn, Viên ngoại lang.

Vũ Đình Dung 武 廷 蓉  : phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức; Nguyên quán xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, Viên ngoại lang.

Nguyễn Bá Quýnh 阮 伯 炯 : xã Hoa Lâm, huyện Nam Đường, Nho sinh trúng thức.

Trần Mô  陳 謨  : xã Di Ái, huyện Đan Phượng, Giám sinh.

Nguyễn Huệ  阮 僡 :  xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Tri huyện.

Trần Đồng  陳 桐   : xã Đan Phượng Thượng, huyện Dan Phượng, Sinh đồ.

Đỗ Thành Doãn  杜 成 允: xã Lan Xuyên, huyện Đông Yên, nho sinh trúng thức.

Trần Hiền    陳 賢 :  xã Vân Canh, huyện Từ Liêm, Điển hàn.

Trương Nguyễn Điều 張 阮 條  : xã Xuân Canh, huyện Đông Ngạn; trú quán xã Hàn Lạc, huyện Gia Lâm, Lang trung.

Nguyễn Hành 阮 行   : xã Nguyệt Áo, huyện La Sơn, Giám sinh.

Nghiêm Bá Đĩnh  嚴 伯 挺  : xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Tự thừa.

Trần Danh Tiêu  陳 名 標 : xã Yên Sở, huyện Đan Phượng, Sinh Đồ.

Nguyễn Huy Thuật 阮 輝 術 : xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Điển Bạ.

Trung thư giám hoa văn học  người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm Nguyễn Viết Giai vâng viết chữ.

Xã trưởng xã Gia Đức, huyện Thuỷ Đường là Hoàng Quang Trạch vâng khắc chữ.

Chú thích bản dịch trên:

(1) Dương Chấn đời Hán có tiếng là thanh liêm,một hôm có người nhân đêm tối đưa lễ vật đến biếu, Chấn không chịu nhận. Người nọ nói: “Đêm khuya chẳng có ai biết, xin ông nhận cho” .

Dương Chấn đáp: “ Sao lại không? Tôi biết, anh biết, trời biết, đất biết, thế là bốn kẻ biết ( tứ tri ) rồi”.

 (2) Tức thanh thận cần (thanh liêm, thận trọng, siêng năng) là ba phép tốt của người làm quan.

* Cụ Tiến sĩ Trần Trọng Liêu, là người họ Trần thôn Văn Hội, xã Văn Bình, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Thôn Văn Hội ngày nay được tách từ xã Văn Giáp trước đây, thành một thôn riêng. Văn Giáp ngày nay thuộc xã Văn Bình, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

Trần Bá Lạn (Văn Hội)

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN