DucPhapLoi

Di tích chùa Pháp Lôi Văn Hội

DI TÍCH CHÙA PHÁP LÔI VĂN HỘI

1-Tên gọi

Thôn Văn Hội, xã Văn Bình, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, từ lâu đời đã có ngôi chùa, nhân dân địa phương và quanh vùng quen gọi là chùa Văn Hội.

Chùa Văn Hội có tên chữ là “Hội Phúc Tự”

Xưa kia Văn Hội và Văn Giáp có chung một ngôi chùa nữa là chùa Hai Bà. Nơi đây thờ Pháp Vân và Pháp Lôi. Trong khách chiến chống Pháp, chùa Pháp Lôi bị phá (1947). Nhân dân thôn Văn Hội đã rước tượng Pháp Lôi cùng các di vật về chùa Văn Hội để thờ ở chính giữa Thượng điện của chùa.

2-Địa điểm phân bố di tích, đường đi đến

Chùa Văn Hội được xây dựng ở phiá Tây của làng.

Từ Thủ đô Hà Nội, Thị xã Hà Đông, theo đường quốc lộ số 1 đến Km 18, rẽ tay trái vào làng Văn Hội là tới chùa.

Có thể đi tới di tích bằng các phương tiện đường bộ: ô tô, xe máy, xe đạp … đều thuận lợi.

3-Sự kiện, nhân vật lịch sử và thuộc tính của di tích

Chùa Văn Hội được xây dựng từ lâu đời để thờ Phật. Như đã nói ở phần trên, sau khi tiêu thổ kháng chiến năm 1947, chùa được thờ thêm tượng Pháp Lôi.

Trước hết nói về bài trí tượng Phật.

Cũng như cac ngôi chùa khác của Việt Nam, chùa Văn Hội được bài trí tượng theo nhiều lớp. Điều đáng chú ý là các pho tượng ở đây phần lớn đều được người xưa tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng với một trình độ kỹ nghệ cao vì nơi đây xa xưa có nghề sơn mài.

Chùa được bài trí; trên cùng là lớp tượng Tam Thế. Ba pho Tam Thế ở đây đều được tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng, mỗi pho cao 1.1m (cả bệ tòa sen).

Lớp thứ hai là tượng Di Đà. Bên tay trái là tượng Quan Thế Âm và bên phải là tượng Đại Thế Chí. Lớp tượng này cao trung bình 1.05m cũng được tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng.

Lớp thứ ba là tượng Thích Ca Mâu Ni

Lớp thứ tư là tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Đây là pho tượng được chạm trổ rất công phu. Tượng cao 0.98m. Người xưa đã tạc 40 cánh tay, được bố trí đăng đối mỗi bên 18 cánh tay, phía trước hai tay chắp trước ngực và hai cánh tay đặt trên đùi. Nét mặc tượng được tạc hồn hậu trang nghiêm, cổ cao ba ngấn. Các cánh tay thon thả đưa lên, lòng bàn tay nâng hạt Minh châu, búp sen, lọ nước cam lồ … rất sinh động (có ảnh chụp kèm theo).

Lớp thứ 5 là tượng Pháp Lôi. Trong hệ thông “Tứ Pháp”: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thì chùa này thờ một vị.

Pho tượng Pháp Lôi được tạc cao 1.05m ngồi trên ngai, mắt tượng nhìn thẳng. Thế tay của tượng Pháp Lôi là thế “Thí Vô Úy Ấn” (abhayamudra, abhayamdadamdra).

Nghệ nhân xưa đã tạc tay phải tượng mở lòng bàn tay hướng ra bên ngoài, năm ngón duỗi thẳng, để ngang vai (có ảnh chụp kèm theo).

DucPhapLoi

Theo kinh điển Phật giáo, thế tay này mang lại sự bình an cho chúng sinh. Đó cũng có nghĩa là khả năng xua tan mọi hoài nghi và cứu độ con người.

Thời vua Linh Đế nhà Hán (168-169) Sĩ Vương đóng thành ở Long Biên. Phía nam thành có chùa Phúc Nghiêm. Trụ trì tại chùa là vị sư người sứ Tây Trúc-Kheo Đà La tên là ĐôTê. Bà sư nữ Tu Định người thôn Mãn Xá có người con gái tên là Man Nương, tuổi vừa 12, cũng theo mẹ học đạo, kính cẩn giữ lễ tiết.

Một hôm, Đà La xoa đầu người con gái khen rằng: “cô bé này có phẩm đạo, sẽ trở thành bậc đại Chân tu”.

Vào một đêm khuya, các vị Tăng đồ tụng kinh chưa nghỉ, Man Nương lo việc bếp nước xong xuôi, ngồi chờ rồi vì mệt mà ngủ thiếp đi. Đà La không biết, lỡ chân bước qua người Man Nương. Từ đó Man Nương thấy trong người khác lạ, tự nhiên có thai. Mười bốn tháng sau, vào ngày 8 tháng 4 sinh được một người con gái. Lúc sinh khắp nhà ánh hồng rực rỡ, mùi hương lạ sực nức.

Bấy giờ Đà La vào trụ trì tu hành trong núi, Man Nương bế hài nhi tìm đến. Đà La nhìn hàng cổ thụ khấn rằng: “Như chứng được nhân quả, nuôi dấu hài nhi thì ắt sẽ đắc Phật đạo”. Lời chưa dứt, cây dâu cổ thụ tách ra, đặt dấu hài nhi xong lại khép lại như cũ. Đà La thuyết bài kệ và trao cho Man Nương cây gậy phép, dặn rằng khi nào trời đại hạn, cắm gậy xuống đất, nước sẽ phun lên.

Về sau này, một năm trời bỗng bão to, cây dâu cổ thụ ấy bỗng trốc gốc, trôi dạt về bến sông thành Long Biên. Dân chúng ra sức kéo nhưng không chuyển. Một lần Man Nương ra sông tắm giặt, đưa tay đẩy thử, tức thì cây gỗ lay chuyển.

Tiếng đồn chuyện ấy vào triều, Sỹ Vương đòi Man Nương vào hỏi. Man Nương tâu lại chuyện thai sinh đặt gửi hài nhi vào cây. Sỹ Vương thở than kinh lạ, bèn sai Man Nương góp tay kéo cây gỗ lên bờ. Đêm ấy Sỹ Vương nằm mộng thấy một vị đại nhân đến nói rằng: “Cây gỗ ấy là thân Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện”. Sỹ Vương liền sai người thợ mộc tên là Đào Lượng đẵn gỗ thành 4 đoạn để tạc 4 tượng. Ngay đoạn gỗ đầu tiên, người thợ mộc phát hiện ra có hòn đá lạ, người ấy đem ra sông cọ cho sạch, nhỡ tay đánh rơi xuống sông. Khi tạc xong 4 pho tượng, pho Pháp Vân nặng không rước đi được. Sau phải thuê ngư phủ mò hòn đá lên đặt trước tượng mới đi được. Sỹ Vương và người đương thời cho rằng hòn đá nguyên là hài nhi mà Man Nương đặt vào cây. Vì vậy đặt tên hòn đá ấy là Thạch Quang Phật.

Ngày 17 tháng giêng Man Nương không có bệnh tật gì mà mất, thọ hơn 90 tuổi.

Thời Tam Quốc, Đào Hoàng làm thái thú Giao Châu, ngưỡng mộ Phật linh ứng nên thường hay tu bổ chùa.

Vua Minh Đế đời Đông Tấn (323-326)  nghe được chuyện, sai thứ sử Giao Châu là Đào Khản lấy tượng đem về Kiến Khang (Nam Ninh). Gần 400 người khiêng mà không sao qua được biên giới, đành phải khiêng trả lại chùa.

Năm đầu triều Lý Nhân Tông (1072) mùa thu, mưa tầm tã, rước tượng đến chùa Báo Thiên cầu tạnh, trời bỗng quang đãng, Hoàng đế tạ ân.

Năm Thái Ninh thứ ba (1074) triều Lý Nhân Tông, trời lại đại hạn, rước tượng cầu đảo nhưng chỉ mưa ở kinh thành. Hoàng đế hạ lệnh rước tượng đi các phương để được mưa lớn.

Khi đám rước đi tới xứ Bồ Đà thuộc địa phận tam thôn Văn Giáp huyện Thượng Phúc ( tức Văn Giáp, huyện Thường Tín ngày nay) thì mưa to, sấm chớp, trời đất bỗng tối sầm lại, Pháp giá phải dừng lại. Một lúc trời quang lại tiếp tục đi. Nhưng chỉ khiêng được 2 tượng, còn 2 pho Pháp Vân, Pháp Lôi không đi được. Các quan tâu với Hoàng đế, Hoàng đế phán rằng: “Sinh ra ở phương Tây, muốn trấn ngự ở phương Nam, đất này ắt có linh khí”, bèn cấp cho vật liệu dựng 2 ngôi chùa, chuẩn y cho thần dân miễn thuế tô  dùng sưu sai để lo việc đèn hương thờ phụng.

Cho đến nay chùa còn giữ được nhiều đạo sắc. Trong đó có đạo Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật. Toàn văn bản dịch như sau:

“Sắc xã Văn Hội, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông phụng thờ như cũ, vị thần nguyên tặng là Huyền Diệu uy thanh lẫm liệt kiên oanh hiển hách túy mục dực bảo trung hưng Pháp Lôi Phật thượng đẳng thần-Thần giúp nước, giúp dân, nhiều lần linh ứng, từng được ban cấp sắc phong. Chuẩn cho phụng thờ. Nay gặp tiết lớn, mừng vua tứ tuần, ban chiếu báu ân dày, gia tăng phẩm trật. Chuẩn phụng thờ như cũ, liệt vào ngày lễ lớn của nước, ghi trong điển lễ phụng thời. Kính thay”.

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9.

Theo các văn bản sự tích lưu lại thì chùa Hai Bà (Văn Bình-Thường Tín) cho thấy, sự tích bắt đầu được viết ra từ năm Thái Ninh thứ ba (1074). Đến đời Trần, Trần Thuận Tông đã được chép thành ký (1388-1397). Bản dịch này nguyên văn bằng chữ Hán trong cuốn sách bạc nói trên, được khắc năm Canh Tý đời Thành Thái.

Sự tích Pháp Vân-Pháp Lôi nằm trong hệ thống thờ Tứ Pháp mà các chùa Đậu (Thành Đạo Tự) ở xã Nguyễn Trãi-Thường Tín, chùa Liên Hoa (hà Bắc), chùa Dâu cùng thờ. Sự xuất hiện thờ Man Nương một bà mẹ Nước lên làm Phật Mẫu và các thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp (Vân, Vũ, Lôi, Điện) là gắn liền với tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp, tín ngưỡng bản địa của dân tộc ta. Chính vì vậy, tượng Pháp Lôi được nhân dân Văn Hội tôn sùng và bảo vệ trong suốt gần nửa thế kỷ tại chùa làng Văn Hội.

4-Loại di tích

Chùa Văn Hội là loại di tích kiến trúc nghệ thuật-Tôn giáo.

5-Khảo sát di tích

Chùa Văn Hội nhìn về hướng Tây, trước cửa chùa là đường làng và liền đó là cánh đồng cấy lúa.

Chùa Văn Hội kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, bao gồm tòa Bái đường và tòa Thượng điện. Tòa Bái đường dài…m, rộng…m được chia làm 5 gian. Bên ngoài tòa Bái đường ở hai đầu hồi người xưa xây 2 cột trụ vuông vức, đắp vẽ công phu. Bên ngoài có một bia đá được tạc vào năm Đồng Khánh thứ 3 (   ). Đây là một bia hậu ghi chép việc tu bổ chùa. Văn bia viết: “Chùa Phúc Hội có từ xưa, lâu ngày hư hỏng. Nay hương thôn và trụ trì chuà tấu trình lên Hộ bộ tả Tham tri Trần Liêu. Thân mẫu quý quan họ Trần là người thiện trong hương bỏ tiền của sửa chữa lại. Nay dân thôn tôn bầu làm hậu Phật, phụng thờ mãi mãi”. Như vậy ít nhất vào thời Nguyễn chùa đã được trùng tu. Vào chùa, gian chính giữa tòa Bái đường treo bức hoành phi “Hội Phúc Tự”, nghĩa là chùa Phúc Hội. Liền đó là đôi câu đối:

“Phật tướng túc liên đài tự hữu thiên hoa trong sức tướng”

“Thần quyền duy thế đạo khẳng tương hàn hỏa liêu thư doanh”

Dịch:

“Tướng Phật nghiêm đài sen vốn có hoa thiên tô sắc tướng”

“Thần quyền gửi thế đạo nhờ đem lửa hàm rọi sách kinh”

Hoành phi, câu đối, bức cửa võng, “Lưỡng long chầu nguyệt” sơn son thếp vàng và bức màn quần cùng với khối lượng di vật:

Phướn, đồ tế tự, lọ hoa, đỉnh đồng, cây nến đồng, bát hương sứ, bộ bát bửu, xà mâu đã làm cho nội thất tòa Bái đường thêm lộng lẫy. Cũng như một số chùa khác, 2 bên tòa Bái đường người xưa bài trí tượng Thổ địa và Thánh Tăng.

Về kiến trúc tòa Bái đường được kết cấu theo hình thức vì kèo làm theo kiểu chồng giường giá chiêng và 4 hàng quân gỗ. Đặc biệt người xưa đã tạo cho công trình thêm duyên dáng và công phu ở các chi tiết câu đầu, xà nách cột dội … Các loại tiết hoa văn lá lật, lá ngô đồng … rất uyển chuyển. Xét cho cùng tòa Bái đường giữ vai trò là nơi để tín đồ hành hương tụng niệm. Tiếp đó là đến tòa Thượng điện được nối liền với tòa Bái đường bởi hệ thống kẻ góc. Tòa Thượng điện được kết cấu dọc với 3 vì kèo tạo thành 4 gian. Phần kiến trúc ở đây thiên về bào trơn đóng bén. Phần điêu khắc tập trung cho hoành phi câu đối. Đáng lưu ý là bài thơ được khắc trên hoành phi sơn son thếp vàng ca ngợi cảnh chùa cảnh Phật.

Địa in tráng phong thanh cựu

Thiên thai cảnh sắc tân

Thập phương lai giám cách

Bách phúc tổng liên trần

Dịch

Đất trời hương gió cũ

Trời mở cảnh sắc tân

Mười phương về chứng giám

Trăm phúc đến quây quần

Tòa Thượng điện là nơi bài trí 5 lớp tượng như đã nói ở trên. Về nghệ thuật điêu khắc đáng chú ý là  nghệ thuật tạc tượng bằng gỗ, tất cả đều được sơn son thếp vàng. Bệ tượng ngồi trên tòa sen cũng được chạm trổ công phu bốn tầng cánh sen với những hoa văn tinh sảo mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê. Trong hệ thống tượng Phật ở đây đáng lưu ý nhất về lịch sử và mỹ thuật là hai pho Thiên Thủ Thiên Nhãn (nghìn mắt nghìn tay) pho tượng Pháp Lôi và 3 pho Tam Thế. Theo truyền thuyết, theo các văn tự cổ đã nói ở trên thì tượng Pháp Lôi được tạc bằng gỗ dâu, sơn mài, sơn thếp. Từ thời nhà Lý, khi vua Lý Thần Tông (thế kỷ thứ XI) cho rước tượng qua đây rồi cho xây chùa Hai Bà. Pho tượng Pháp Vân hiện thờ tại chùa  Văn Giáp, pho Pháp Lội rước về thờ tại chùa Văn Hội. Đó là những di sản văn hóa có giá trị lớn lao.

Nhìn tổng thể chùa Văn Hội tồn tại độc lập như bất cứ ngôi chùa lớn nào khác. Đó là sự hiện diện còn đầy đủ các hạng mục kiến trúc khác như: nhà Tổ, nhà khách, nhà ở của Tăng Ni, vườn tháp, vườn hoa, cây cổ thụ … Chùa còn giữ được nhiều di vật quý sẽ nói ở phần sau.

6-Các hiện vật trong di tích

Đồ giấy
14 đạo sắc
Đồ đồng
1 chuông đồng
1 khánh
1 bình hương
1 đỉnh
2 cây nến
Đồ đá
1 bia đá thời Đồng Khánh tam niên (có bản dịch kèm theo)
Đồ gỗ
2 cửa võng
3 hoành phi
20 gươm trường bát bửu, mộc bản
2 trống
1 mõ
6 cây đèn
2 bộ tam sự
2 bộ kiệu
Đồ gốm sứ
1 chóe thời Lê
3 bát hương
8 lọ hoa
7-Giá trị lịch sử, khoa học, văn hóa

Chùa Văn Hội thờ Phật với hệ thống tượng Phật đầy đủ, nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, tài hoa. Chùa có cảnh quan đẹp, hệ thống kiến trúc quy mô to lớn.

Đặc biệt do điều kiện khách quan tiêu thổ kháng chiến nên một trong hai ngôi chùa ở trong khu Hai Bà bị phá, chùa Văn Hội ngày nay còn là nơi bài trí bảo vệ tượng Pháp Lôi cùng những di vật của chùa Pháp Lôi xưa kia với 20 đạo sắc. Tháng 3 năm 1948 chùa Pháp Lôi bị Pháp tàn phá, lý do vì đây là cơ sở kháng chiến. Sư cụ là Sư Giá, Pháp danh Đàm Định là đảng viên Đảng Cộng Sản, đã cùng chi bộ dựa vào chùa để hoạt động. Chùa Pháp Lôi bị giặc phá lấy vật liệu xây bốt Thông. Cơ sở lấy chùa Văn Hội để hoạt động. Chùa Văn Hội, đình Văn Hội đều có hầm nuôi dưỡng cán bộ nay vẫn còn di tích. Có thể nói di tích chùa Văn Hội còn là di tích kháng chiến.

8-Tình trạng bảo quản di tích

Chùa Văn Hội nhìn chung còn tốt. Các hạng mục kiến trúc thuộc phần gỗ, đắp vẽ … còn rất tốt.

Di tích được tu bổ lớn vào thời Đồng Khánh tam niên. Đến năm 1987 nhân dân Văn Hội lại tu bổ nhỏ như: đảo ngói, đắp lưỡng long chầu nguyệt, xây bể cảnh, tường hoa … Hàng năm tổ chức rước tượng lớn, mở hội vào ngày 8 tháng tư Âm lịch.

9-Các phương án bảo vệ, sử dụng di tích

Dự kiến trong tương lai chùa Văn Hội sẽ tôn tạo phần ngoại thất.

Hiện tại chùa có nhà sư trụ trì và ban bảo vệ, ban khánh tiết trông nom thường xuyên.

Chùa Văn Hội là một di tích lớn, lại thuận tiện giao thông đi lại hành hương. Trong tương lai sẽ tthành điểm du lịch để đón khách tham quan, nghiên cứu.

10-Cơ sở pháp lý bảo vệ di tích

Chùa Văn Hội là một di tích chưa được đăng ký bảo vệ và xếp hạng.

Theo Pháp lệnh bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh do Chủ tịch Hội đồng nhà nước ban hành, Đảng ủy, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Văn Bình cùng nhà chùa và nhân dân Văn Hội đề nghị ngành văn hóa tỉnh, huyện lấp hồ sơ đệ trình lên UBND Tỉnh, Bộ Văn hóa thông tin và Thể thao nghiên cứu sớm có quyết định Pháp lý Nhà nước để di tích chùa Văn Hội được bảo vệ và phát huy tác dụng hiện tại và mai sau.

11-Những tư liệu bổ sung

-Hồ sơ di tích chùa Hai Bà xã Văn Bình-huyện thường Tín-Hà Tây, Bộ Văn hóa dã xếp hạng năm 1991.

-Thần phả và 20 đạo sắc phong.

-Lịch sử Phật giáo Việt Nam.

-Đại Việt Sử Ký toàn thư NXB Sử học Hà Nội 1967.

Ngày 27 tháng 4 năm 1992.

Phó chủ tịch UBND xã đã ký (Trần Thị Lý)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>