Kinh Pháp Hoa-Phẩm “An Lạc Hạnh” thứ 14 và Phẩm “Tùng Địa Dũng Xuất” thứ 15

Kinh Pháp Hoa-Phẩm “An Lạc Hạnh” thứ 14 và Phẩm “Tùng Địa Dũng Xuất” thứ 15

Ngày 1 tháng Hai Đinh Dậu (26-2-2017) Chư Ni và Phật tử Chùa Pháp Van-Sài Gòn số 29 Đoàn Thị Điểm, Phường 1, Quận Phú Nhuận tiếp tục tụng kinh Pháp Hoa, Phẩm “An Lạc Hạnh” thứ 14 và Phẩm “Tùng Địa Dũng Xuất” thứ 15″. Kính mời quý vị trước khi đọc tụng xin xem bài viết của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh để hiểu rõ nội dung của các phẩm kinh. Nam Mô A Di Đà Phật.

H_01

H_02

H_03

H_04

H_05

H_06

H_07

H_08

H_09

H_10

H_11

H_12

H_13

H_14

H_15

Phẩm 14: An lạc hạnh

Sang phẩm thứ mười bốn tức là phẩm An Lạc Hạnh, trang 340.  Phẩm này là một trong những phẩm mới được thêm vào, vẫn còn dấu tích của sự kỳ thị phụ nữ, và không xuất sắc như những Phẩm khác trong kinh.

An lạc hạnh là phương pháp hộ trì Pháp Hoa để cứu độ chúng sanh. Trong phẩm này, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi:  Bạch đức Thế Tôn, các vị Bồ Tát thì rất ít và rất hiếm có, thế nhưng cuộc đời lại đầy dẫy tội ác và quá nhiều chúng sanh vô minh, sau này làm sao các Bồ Tát có thể hộ trì và thuyết giảng kinh Pháp Hoa được? Bụt dạy rằng, Khi cần nói kinh, họ phải an trú trong bốn pháp.

Pháp thứ nhất là người nói kinh phải an trú nơi Hành xứ và nơi Thân cận xứ.  Hành xứ là an trú trong nhẫn nhục, hòa dịu trong mọi công việc.  Có nhẫn nhục thì mới tạo được an lạc cho mình, và nhờ vậy mà người khác cũng được an lạc theo.  Tuy vậy, nhẫn nhục nhưng không nhu nhược, xử sự nhu hòa nhưng đừng vì bạo lực mà phải tuân theo.  Thân cận xứ là không gần gũi với các người có chức tước, thế lực hay người làm nghề xấu ác, tà tâm.  Phải thấy rõ pháp không như thật tướng để không bị ràng buộc vào những cái tưởng do tri giác tạo nên.  — đoạn này kinh dạy rất chi tiết về phương cách để hộ trì và thuyết giảng:  Không mong cầu được đền đáp, được cúng dường khi nói kinh; không vào nhà người khác một mình để nói kinh; pháp thân phải nghiêm túc khi nói kinh cho nữ giới v.v… (Đoạn 2, trang 340).

Pháp thứ hai là người nói kinh phải trú nơi hạnh An lạc, tức là trong lúc giảng kinh, không nên nói việc hay dở, tốt xấu của người, không nêu danh tánh để khen ngợi hay chê bai người nào (Đoạn 5, trang 348).

Pháp thứ ba là khi giảng kinh đừng mang lòng ganh ghét, khinh thị, nhờ vậy mà người nghe dễ thu thập, dễ được chuyển hóa (Đoạn 7, trang 352).

Pháp thứ tư là người giảng kinh Pháp Hoa phải khởi tâm từ bi lớn, phải biết thương những người chưa được nghe pháp mầu của Bụt, và phải phát đại nguyện rằng nếu người nghe kinh mà không tin hay không hiểu, thì lúc đạt được vô thượng chánh đẳng chánh giác, ta sẽ dùng phương tiện quyền xảo để giúp người này thấu được pháp mầu Pháp Hoa (Đoạn 9, trang 354)

Phẩm 15: Tùng địa dũng xuất

Chúng ta hãy đi sang phẩm 15, phẩm Tùng Địa Dũng Xuất, trang 365.  Phẩm này cũng thuộc về thế giới của Bản môn và đáng lý phải đi sau sát phẩm Hiện Bảo Tháp.  Trong phẩm này, chúng ta bắt đầu thấy được cái tính cách bất sinh bất diệt của Bụt, cái tính chất vĩnh cửu thường hằng của Bụt.  Bụt của tự tính không còn nằm trong khung không gian và thời gian nữa.

Lúc bấy giờ có rất nhiều vị Bồ Tát lớn đã đến từ các tinh cầu khác, đứng dậy chắp tay làm lễ đức Thế Tôn và bạch rằng:  Bây giờ chúng con xin ở lại đây để sau khi Bụt diệt độ thì chúng con sẽ tiếp tục hành trì kinh Pháp Hoa, giúp Bụt làm công việc độ thoát chúng sanh trong cõi ta bà này.  Bụt mỉm cười nói:  Xin cám ơn, quí vị khỏi phải nhọc lòng làm việc ấy, vì ở cõi ta bà này đã có đủ người để làm chuyện đó rồi.  Quí vị ở quốc độ nào xin cứ về nơi ấy để tiếp tục hành đạo.  Bụt vừa nói xong thì cõi ta bà rúng động, mặt đất nứt ra và từ dưới đất trồi lên vô số, vô lượng, vô biên các vị đại Bồ Tát.

Hình ảnh này cũng giống như Hội thủy tiên ở xóm Thượng.   Giờ này, đi ra Pháp Thân tạng ta sẽ không thấy có gì cả, nhưng đầu tháng ba mỗi năm, ra lại nơi đó, chúng ta sẽ rất ngạc nhiên khi thấy hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn hoa thủy tiên (hoa daffodil) ở dưới đất trồi lên, vàng rực.  Phẩm này nói rằng các vị Bồ Tát xuất hiện từ dưới đất lên cũng vàng rực như vậy.  Thế nên lần đầu tiên thấy hoa thủy tiên mọc lên hàng trăm ngàn đóa như vậy, tôi mới đặt tên khu ấy là Pháp Thân tạng, tức là kho tàng của Pháp Thân.

Tư tưởng này trong kinh Pháp Hoa gọi là thị hiện, tức là bày đặt ra như vậy.  Thị hiện đản sanh, thị hiện thành đạo, thị hiện Niết Bàn, và đây là thị hiện Tùng địa dũng xuất.  Một hôm đi thiền hành ở xóm Thượng, tôi cũng đã có một kinh nghiệm tương tự.  Cái thấy đó có thể đã phát xuất từ kinh Pháp Hoa mà tôi đã được học từ hồi còn nhỏ.  Đang đi thiền hành, đột nhiên tôi thấy mình sắp dẫm lên một tấm lá vàng.  Mùa Thu lá vàng rất đẹp.  Thấy tờ lá vàng đẹp quá, mình không nỡ dẫm lên.  Nhưng sự ngần ngừ đó chỉ xảy ra trong khoảng một giây đồng hồ thôi, rồi tôi mỉm cười và nghĩ rằng, tờ lá này đã thị hiện vàng, thị hiện rơi.  Trên bình diện Tích môn thì tờ lá này đã có lúc sinh ra trên cành như là một tờ lá non, đã đeo bám vào cành cây trong vòng mấy tháng, khi mùa Thu đến thì đổi sang màu vàng, và một hôm nào đó khi gió lạnh thổi qua thì nó rơi xuống.  Đứng trên phương diện Tích môn thì ta thấy tờ lá đó có sinh ra, có lớn lên, có đổi màu, và có rụng xuống.  Nhưng nếu quán chiếu, và an trú trong định Pháp Hoa, mình sẽ thấy tờ lá này nó cũng chỉ giả vờ sinh ra, có mặt, rồi giả vờ chết đi mà thôi.  Nếu nhìn sâu được vào lý duyên sinh vô ngã, ta sẽ thấy bản chất của tờ lá này là vô sinh bất diệt, rằng tờ lá sẽ lại thị hiện đản sanh trên cành cây, và đối với mình, chiếc lá đang chơi trò chơi đuổi bắt, đi trốn đi tìm.

Mình với cha mẹ của mình cũng vậy.  Chúng ta đều đang đi chơi trò chơi trốn tìm với nhau.  Mình tưởng mẹ mình mất rồi, không còn nữa, ngờ đâu đó chỉ là chuyện giả đò, một ngày nào đó, đủ duyên, mẹ mình sẽ xuất hiện lại dưới hình tướng này hay hình tướng khác, và nếu có đủ tuệ giác, mình có thể nhận ra được mẹ mình.  Vì vậy không phải chỉ có Bụt mới thị hiện đản sanh và nhập Niết Bàn, mà mẹ mình cũng thị hiện đản sanh và nhập Niết Bàn, và chính mình cũng thị hiện đản sanh và nhập Niết Bàn.  Vì vậy người mình thương, mình phải nhìn cho kỹ.  Người mình thương có thể là Bụt, và khi Bụt mất, mình có thể khóc.  Người mình thương cũng có thể là thầy, là cha, là mẹ, là con, hay là em của mình, và khi người đó mất đi, mình khóc.  Mình khóc tại mình nghĩ rằng người đó đã chết thật.  Bản chất của người mình thương cũng là vô sinh bất diệt.   Tờ lá vàng kia cũng có thị hiện đản sanh, thị hiện Niết Bàn.  Do đó nếu tiếp xúc được với Bản môn thì mình sẽ mỉm cười với tờ lá vàng, cũng như mình có thể mỉm cười trước những cái mà ta gọi là biến cố của cuộc đời.  Cái tư tưởng thị hiện Pratiharia trong đạo Bụt là như vậy, hiển hiện ra như vậy thôi, đóng kịch ra như vậy thôi, giả vờ ra như vậy thôi.  Đó là đứng về phương diện tướng, nhưng đứng về phương diện thể tánh thì tất cả mọi pháp đều không sanh, không diệt.

Khi hàng triệu vị Bồ Tát thân đẹp như vàng ròng, từ dưới đất trồi lên, an trú trong hư không, họ dùng những âm thanh rất vi diệu để ca ngợi Bụt và sự ca ngợi đó kéo dài đến năm mươi tỉ kiếpĐây là nói về không gian và thời gian ở trong Bản môn, một giây phút chứa đựng cả thiên thâu, một giây phút chứa đựng được cả ngàn đời. Thời gian năm mươi tỉ kiếp trong Bản môn mà các vị Bồ Tát dùng để xuất hiện và ca ngợi Bụt, là sự diễn bày của một hiện tượng xảy ra trong pháp giới Bản môn. Trong thế giới Tích môn, thế giới có một có nhiều, thì sự kiện này chỉ  kéo dài nhiều lắm là nửa ngày.

Lúc thấy các vị Bồ Tát và đại Bồ Tát xuất hiện nhiều như vậy, đại chúng mới hỏi Bụt: Bạch đức Thế Tôn, các vị Bồ Tát đó ở đâu mà tới đông quá như vậy? Bụt nói rằng họ là học trò của tôi.  Mọi người rất lấy làm lạ, và trong số những người ngạc nhiên đó có một vị Bồ Tát lớn, Bồ Tát Di Lặc.  Đại chúng sanh lòng nghi hoặc, họ vẫn không hiểu, nên hỏi tiếp:  Bạch đức Thế Tôn, tại sao Thế Tôn vừa xuất hiện trên cõi đời mới có bốn mươi mấy năm, mà Ngài đã giáo hóa được vô lượng vô biên đệ tử như vậy?  chúng con không thể nào hiểu được. Như vậy, con mắt của thánh chúng vẫn còn là con mắt của Tích môn.  Ví dụ có một người trẻ chừng 30 tuổi, mắt rất sáng, tóc rất đen, thân thể rất tráng kiện.  Người đó chỉ vào một ông già 85 tuổi, đầu tóc bạc phơ, răng rụng gần hết và nói, người này là con của tôi đó, thì không ai có thể tin!  Cũng vậy, đức Thế Tôn thành đạo và mới có khoảng 40 năm giáo hóa, làm sao lại giáo hóa được một số lượng khổng lồ, vô lượng vô biên đệ tử như vậy, thật không thể nào tin được!  Đó là thắc mắc của những người đang vướng vào Tích môn.

Câu hỏi đó sẽ được trả lời trong phẩm kế tiếp, Phẩm Như Lai thọ lượng, phẩm 16.  Trong phẩm đó chúng ta sẽ biết được tuổi thật của Bụt.

Trăng bao nhiêu tuổi trăng già, 

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

Phẩm thứ 16 sẽ cho chúng ta biết Bụt sống được bao nhiêu tuổi, thọ lượng của Bụt là bao nhiêu, vì vậy mà ta gọi phẩm này là Như Lai Thọ Lượng, phẩm nói về tuổi thọ của Bụt.

Một điều đáng nhớ là trong phẩm thứ 15, Tùng địa dũng xuất, là Bụt cho chúng ta thấy rằng Bụt tồn tại trong thời gian vô tận, và trong Phẩm 11, Hiện Bảo tháp, Bụt cũng chỉ cho ta thấy Bụt tồn tại trong không gian vô biên.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
(langmai.org)

Ảnh, video: Đức Tế

Lễ hội cầu mưa

Lễ hội cầu mưa

Lễ hội cầu mưa được tổ chức từ ngày 6 đến 8 tháng 4 hàng năm, tại chùa Pháp Vân, xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm. Lễ hội cầu mưa gắn với hệ thống thờ Tứ Pháp và cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa để người dân có mùa màng bội thu cuộc sống được ấm no hạnh phúc.

Continue reading Lễ hội cầu mưa

Hội Dâu – nghi lễ nông nghiệp điển hình ở châu thổ Bắc Bộ

Hội Dâu – nghi lễ nông nghiệp điển hình ở châu thổ Bắc Bộ

1. Dâu là tên địa danh, di tích và vùng đất thuộc địa vực hành chính của 3 xã thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh ngày nay là xã Thanh Khương, xã Hà Mãn, xã Trí Quả. Trước kia 3 xã này hợp thành tổng Thanh Khương, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc – Bắc Ninh, dân gian quen gọi là Tổng Dâu vùng Dâu bởi gắn với sông Dâu, chợ Dâu và hội Dâu vào ngày 8 tháng 4 âm lịch hàng năm.

2. Nằm ở trung tâm châu thổ Bắc Bộ, đất đai màu mỡ, cao thoáng, giàu nguồn nước, từ những thế kỷ trước công nguyên, vùng Dâu là trung tâm nông nghiệp của người Việt. Nhà sử học Đào Duy Anh trong công trình “Cổ Sử Việt Nam” đã nhận định: “ Dâu – tức Luy Lâu là cái ổ để người Việt tỏa ra chiếm lĩnh vùng trung châu”. Người Việt chính là chủ nhân của nền văn minh Đông Sơn – Văn minh Sông Hồng – nền văn minh lúa nước tiêu biểu ở Đông Nam Á. Căn cứ vào các nguồn sử liệu địa danh, tín ngưỡng dân gian, khảo cổ học, Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng đã khẳng định: Dâu chính là trung tâm của bộ lạc Dâu – một bộ lạc lớn chuyên cấy lúa và trồng dâu chăn tằm dệt lụa ở vùng sông Dâu, trở thành một trong những bộ phận cốt lõi của quốc gia Văn Lang – Âu Lạc thời dựng nước đầu tiên ở những thế kỷ trước Công nguyên. Cũng từ những kết quả nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng Dâu và quê hương Bắc Ninh, giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhận xét và đánh giá: Bắc Ninh là cái nôi sinh thành người Việt, và như vậy Bắc Ninh là trung tâm của nền văn minh nông nghiệp lúa nước của người Việt mà vùng bộ lạc Dâu (Thuận Thành ngày nay) là địa bàn trọng điểm. Địa danh Dâu tồn tại phổ biến trong dân gian đến nay cùng hàng loạt các di tích, di vật khảo cổ được phát hiện và nghiên cứu ở vùng Dâu cũng như ở Bắc Ninh cho thấy ở những thiên niên kỷ trước Công nguyên, cư dân nông nghiệp đã tới cư trú, lập làng tiến hành canh tác nông nghiệp trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, làm nhiều nghề thủ công, đánh bắt tôm cá ở dọc đôi bờ sông Cầu, sông Ngũ huyện, Tiêu Tương, Tào Khê, và đôi bờ sông Dâu. Những làng tiểu nông điển hình của Việt Nam đã được hình thành và phát triển trước hết ở Bắc Ninh và vùng Dâu – Dâu đã sớm trở thành trung tâm kinh tế – văn hóa của người Việt ở nhiều thế kỷ trước Công nguyên.

3. Chính do địa lý và cơ sở kinh tế – văn hóa đó, trong những thế kỷ sau Công nguyên, Dâu đã sớm trở thành trung tâm chính trị – kinh tế và văn hóa của quận Giao Chỉ và sau đó là Giao Châu. Trị sở của quận và của Châu đặt ở Dâu tức  Luy Lâu. Luy Lâu cũng trở thành một đô thị lớn, trung tâm kinh tế, trung tâm văn hóa và Phật giáo của nước ta thời Bắc thuộc. Chùa Dâu trở thành chốn tổ của Phật giáo Việt Nam đồng thời Luy Lâu cũng trở thành trung tâm Nho giáo và truyền bá văn hóa Hán vào nước ta với vai trò của Sĩ Nhiếp được ghi nhận và tôn vinh là “Nam giao học tổ”.

Trong điều kiện đó, kinh tế nông nghiệp vùng Dâu – Luy Lâu càng có điều kiện phát triển tiếp tục giữ vững vai trò là vùng nông nghiệp điển hình của xứ Bắc – Vũ Ninh – Kinh Bắc. Hàng loạt các di tích khảo cổ thời Bắc thuộc được phát hiện và khai quật nghiên cứu ở Luy Lâu như di tích cư trú, các khu lò gốm, lò gạch ngói, đồ gốm sứ, đặc biệt là hàng vạn viên chì lưới bằng đất nung, dọi xe sợi, các lò đúc đồng trong thành Luy Lâu, mảnh khuôn đúc trống đồng… đã là những minh chứng xác thực cho sự sầm uất của đô thị Luy Lâu với các hoạt động giao lưu, hội nhập kinh tế – văn hóa, tín ngưỡng – tôn giáo giữa Luy Lâu với các vùng miền, các nước trong khu vực. Có ý kiến cho rằng Luy Lâu là đô thị cảng mang tầm quốc tế ở Giao Chỉ – Giao Châu thời Bắc thuộc.

Mặc dù vậy, Luy Lâu vẫn giữ vai trò là vùng nông nghiệp điển hình của nước ta với đậm đặc các làng tiểu nông đa canh, đa nghề mà một bài ca dao cổ trong vùng còn truyền lại là một minh chứng:

“Tư Thế bút mực làm giàu,
Trà Lâm mổ lợn, uốn câu làng Dàn.
Nấu chì đã có Văn Quan,
Kẻ Tướng đi hát kiếm quan tiền dài.
Nấu dầu đã có Thanh Hoài
Đông Cốc dậm dủi đâu đâu cũng mò
Dâu Tự buôn muối, Lũng Triền buôn nâu
Làng Mèn làm quạt khéo tay
Xuân Nê thả chũm, Doãn Đồng đi câu
Công Hà trồng bí, trồng bầu…”

Với truyền thống đặc trưng và bền vững đó, khi Luy Lâu không còn giữ vai trò là trung tâm chính trị và đô thị Luy Lâu không còn, thì vùng Dâu – Luy Lâu vẫn là vùng kinh tế nông nghiệp phát triển. Sang thời phong kiến độc lập, vùng Thổ Lỗi – Siêu Loại thuộc thủ phủ Thuận An – tức Dâu – Luy Lâu xưa, vẫn tiếp tục là vùng nông nghiệp trù phú, nổi tiếng những làng trồng dâu chăn tằm, dệt vải, là quê hương của Nguyên Phi Ỷ Lan – cô gái vùng Dâu nổi danh tài đảm, trở thành vợ vua Lý Thánh Tông – người đã có những chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nghề trồng dâu, chăn tằm dệt vải lụa.

4. Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp tiểu nông, lại từng là trung tâm văn hóa của người Việt, nhiều thế kỷ là trung tâm chính trị, trung tâm giao lưu kinh tế – tín ngưỡng, văn hóa của nước ta với nhiều nước trong khu vực, đời sống tâm linh tín ngưỡng của cư dân vùng Dâu – Luy Lâu – Thuận Thành rất phong phú đa dạng. Người dân các làng xã thờ thần thánh, thờ các danh nhân lịch sử văn hóa, thờ phật, thờ các vị thần mẫu, thờ tổ tiên, ông bà… Nhưng bao trùm và ảnh hưởng sâu đậm trong tín ngưỡng tôn giáo của người vùng này là tín ngưỡng dân gian thờ các vị thần có liên quan đến sản xuất nông nghiệp.

Ở vùng này, nơi duy nhất có lăng mộ và đền thờ Kinh Dương Vương – vị thủy tổ của người Việt phương Nam tức “Nam Bang thủy tổ”. Cũng ở vùng này, đậm đặc các làng thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, thờ Hùng Vương và nhiều tướng lĩnh của vua Hùng. Theo lịch sử và truyền thuyết các vị trên là con cháu của họ Thần Nông – một trong 5 vị đế thời thượng cổ đã dạy dân làm nông nghiệp, mà sử ghi là Viêm Đế.

Tín ngưỡng đặc trưng của vùng Dâu – Luy Lâu là thờ các hiện tượng thiên nhiên: mây, mưa, sấm, chớp gọi là “Tứ pháp” là những hiện tượng chi phối trực tiếp đời sống và sản xuất của người làm nông nghiệp lúa nước. Đây là tín ngưỡng dân gian vừa cổ xưa vừa tiêu biểu cho đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân vùng Dâu.

Khi Dâu trở thành trung tâm Phật giáo, trung tâm Nho giáo của nước ta từ đầu Công nguyên thì cả Phật giáo, Nho giáo và các tín ngưỡng ngoại sinh xâm nhập vào Luy Lâu đều phải hòa nhập và Việt hóa với tín ngưỡng dân gian vùng Dâu.

Bản khắc “Cổ châu pháp vân Phật bản hạnh” khắc năm 1752 lưu tại chùa Dâu và văn bia chùa Tổ Mãn Xá là tài liệu về lịch sử “Tứ pháp” được coi là lịch sử phật giáo Việt Nam, đã cho biết khá cụ thể, sinh động việc truyền bá Phật giáo (và cả Nho giáo) vào Dâu cũng như quá trình chuyển hóa các hiện tượng thiên nhiên: mây, mưa, sấm, chớp thành các vị phật mẫu: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện được nhân dân lập chùa thờ ở Luy Lâu trong đó chùa Dâu là trung tâm thờ Pháp Vân. Các phật mẫu còn được gọi bằng cái tên dân gian của cư dân vùng trồng dâu chăn tằm, cấy trồng lúa, đậu là bà Dâu, bà Đậu, bà Dàn, bà Tướng. Nhiều nơi ở châu thổ Bắc Bộ thờ Tứ pháp nhưng các kết quả nghiên cứu đã khẳng định tín ngưỡng thờ “Tứ pháp” bắt nguồn từ Dâu rồi lan tỏa ra các vùng xung quanh. Đáng lưu ý là Phật tứ pháp ở vùng Dâu còn được thánh hóa thành “Đại Thánh Pháp Vân”; “Đại Thánh Pháp Vũ”… và được các triều vua phong sắc cho các làng thờ làm thành hoàng. Tài liệu “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” cho biết rằng chính Sĩ Nhiếp  – “Nam Giao học tổ” hay nhân dân còn gọi là thánh Nam Giao là người đã tạc tượng “Tứ pháp” và cho phép dựng chùa để thờ. Ngày hội Dâu, chính Sĩ Nhiếp là người khai hội. Đó là những cứ liệu về quá trình Việt hóa – tín ngưỡng dân gian hóa Phật giáo, Nho giáo diễn ra ở trung tâm Luy Lâu.

Nghi thức thờ tự các chùa vùng Dâu mà điển hình là chùa Dâu thể hiện đặc trưng tín ngưỡng dân gian của vùng nông nghiệp điển hình. Chùa Dâu được dựng từ những thế kỷ đầu Công nguyên – ngôi chùa cổ nhất đồng thời là chốn tổ Phật giáo Việt Nam. Thế kỷ thứ VI Dâu là trung tâm của thiền phái Tì ni đa lưu chi – Phái Thiền Việt Nam đầu tiên, nơi trụ trì của nhiều bậc cao tăng Việt Nam, Trung quốc, Trung Á. Sang thời Trần chùa Dâu được trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho hưng công tu bổ thành “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp” một danh lam cổ tự bậc nhất Việt Nam.

Trải qua hơn 2 thiên niên kỷ, qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhưng chùa Dâu vẫn giữ được sự cổ kính trong kiến trúc và đặc biệt là nghi thức thờ tự thể hiện Phật hóa tín ngưỡng dân gian vùng Dâu. Kiến trúc chùa quy mô, bề thế, nhưng trung điểm là tòa tháp Hòa Phong (Hòa Phong tháp) cao to vượt lên (nay là 3 tầng cao 15m trước kia là 9 tầng). Tòa tháp ở trung tâm chùa – dấu tích đặc trưng của các tịnh xá Phật giáo Ấn Độ, khẳng định sự cổ xưa và chốn tổ đình Phật giáo Việt Nam, đồng thời là một biểu hiện tín ngưỡng tâm linh cầu mưa thuận gió hòa của cư dân nông nghiệp vùng Dâu – miền châu thổ Bắc Bộ. Vì vậy tháp “Hòa Phong” là kiến trúc tiêu biểu và độc đáo của chùa Dâu, đồng thời được coi là cội nguồn tâm linh, là nơi hội tụ của cư dân Việt với câu ca:

“Dù ai buôn đâu bán đâu,
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”

Nghi thức thờ tự ở chùa Dâu (và các chùa thờ “Tứ pháp” “Ngũ pháp” kể cả chùa Tổ Mãn Xá thờ phật mẫu Man Nương) là nét đặc trưng và tiêu biểu nhất của tín ngưỡng dân gian vùng Dâu. Trung tâm thờ tự tại tòa thượng điện không phải là nơi thờ Phật như thường gặp ở các chùa khác, mà đặt tượng Pháp Vân phía trước là tượng “Thạch Quang” hai bên là tượng Kim đồng Ngọc Nữ, tượng “Bà Đỏ” “Bà Trắng”… Đó là những di phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thế kỷ XVIII. Tòa hậu đường phía sau tòa thượng điện mới là nơi đặt thờ các pho tượng Phật thường thấy như A di đà, Quan âm, Thế chí, Phổ hiền bồ tát…

Nghi thức bày đặt các tượng thờ ở chùa Dâu với trung tâm là thờ Phật Pháp Vân đã cho thấy đây là ngôi chùa thờ nữ thần nông nghiệp được phật hóa thành Phật Pháp Vân rồi thánh hóa thành “Đại thánh Pháp Vân Vương Phật” thể hiện tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp lúa nước luôn luôn cầu mong thời tiết thuận hòa:

“Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng”.

Lễ hội Dâu là thời điểm tập trung và tiêu biểu nhất nghi lễ nông nghiệp trong hoạt động văn hóa tâm linh tín ngưỡng của cư dân vùng Dâu.

Lễ hội được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 âm lịch để kỷ niệm ngày sinh Phật mẫu Man Nương người đã sinh ra Đức Thạch Quang và Phật Tứ pháp. Ngày này trước đây được coi là ngày Phật Đản Việt Nam đồng thời cũng là thời khắc để người dân nhớ về chùa Dâu, nhớ về Tứ pháp, trở về nguồn cội với câu ca:

“Dù ai buôn bán trăm nghề,
Nhớ ngày mồng Tám thì về hội Dâu”

Đây chính là lúc người nông dân cầu mưa để lấy nước làm mùa và hội Dâu được coi là lễ cầu đảo của cư dân nông nghiệp vùng Dâu.

Lễ hội được 12 làng thuộc tổng Khương Tự, hay còn gọi là Tổng Dâu – nay là các làng thuộc các xã Thanh Khương, Hà Mãn, Trí Quả cùng phối hợp tổ chức nơi trung tâm chùa Dâu. Nghi thức lễ hội gồm việc rước tượng “Tứ Pháp” về “cộng đồng” tại chùa Dâu, tổ chức tế lễ, kể hạnh… Đặc sắc là nghi lễ rước và diễn tích trò “Mẹ đuổi con” và tổ chức “cướp nước” bằng việc rước kiệu các bà “Tứ pháp” chạy thi ra tam quan chùa. Nếu kiệu rước bà nào tới tam quan trước thì được nước và thắng cuộc. Thường thì kiệu bà Pháp Vũ ra trước và người dân quan niệm rằng năm đó sẽ được mùa.

Đến chiều mồng 8 thì tổ chức rước Phật “Thạch Quang” và phật Tứ pháp về chùa Mãn Xá vái tổ, rồi rước tuần nhiễu quanh các chùa thờ “Tứ Pháp” để các bà chia tay chùa nào về chùa ấy. Việc rước “tuần nhiễu” diễn ra vào ban đêm với không khí sôi động, náo nhiệt. Thời Lý – Trần, tượng Pháp Vân nhiều lần được rước ra Thăng Long để đích thân nhà vua làm lễ cầu đảo cho toàn dân.

Hội Dâu là lễ hội phật giáo lớn diễn ra tại tổ đình Phật giáo Việt Nam nhưng thực chất là sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân các làng xã thuộc châu thổ Bắc Bộ – cái nôi của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Đó là tín ngưỡng thờ nữ thần nông nghiệp được phủ lấp nhiều cơ tầng văn hóa nội sinh và ngoại sinh. Vì vậy hội Dâu không chỉ là nghi lễ nông nghiệp tiêu biểu mà còn là hoạt động văn hóa dân gian đậm đà bản sắc vùng quê Bắc Ninh – Kinh Bắc.

TS. Trần Đình Luyện – Phó Chủ tịch Hội sử học tỉnh Bắc Ninh
http://vanhoattdlbacninh.gov.vn

Chùa Bà Đanh: Ngôi chùa thờ Tứ Pháp

Chùa Bà Đanh: Ngôi chùa thờ Tứ Pháp

Toạ lạc tại xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, Chùa Bà Đanh từ lâu thực sự là điểm đến về văn hoá tâm linh không thể thiếu của người Việt.

Continue reading Chùa Bà Đanh: Ngôi chùa thờ Tứ Pháp

Đôi điều về sự tiếp xúc giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu qua truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh

ĐÔI ĐIỀU VỀ SỰ TIẾP XÚC GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU QUA TRUYỀN THUYẾT PHẬT MẪU MAN NƯƠNG VÀ THÁNH MẪU LIỄU HẠNH.

Qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, xã hội nói chung, đời sống tâm linh nói riêng, của người Việt đã có những thay đổi rất mạnh mẽ. Bên cạnh những tôn giáo được du nhập vào Việt Nam như Kito giáo, Phật giáo, Nho giáo hay những tôn giáo được hình thành ở Việt Nam như Cao Đài, Hòa Hảo, còn tồn tại và phổ biến rất nhiều những hình thức tín ngưỡng dân gian, mà sức sống và sự lan tỏa của nó trong dân chúng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tiến hành tìm hiểu.

Continue reading Đôi điều về sự tiếp xúc giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu qua truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Chùa Dâu – Trung tân Phật giáo cổ xưa nhất Việt Nam (Video)

CHÙA DÂU ( THUẬN THÀNH – BẮC NINH ) – TRUNG TÂM PHẬT GIÁO CỔ XƯA NHẤT VIỆT NAM

theo sử sách và khảo cổ thì Phật giáo du nhập va2op Việt Nam từ rất sớm. Phật giáo đã hòa quyện với tín ngưỡng của văn hóa lúa nước đã hình thành nên hệ tho61ng1 chùa thờ Tứ Pháp. Vì vậy chùa Dâu là trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất Việt Nam

Continue reading Chùa Dâu – Trung tân Phật giáo cổ xưa nhất Việt Nam (Video)

Chùa Dâu – Thuận Thành (Bắc Ninh)

Chùa Dâu – Thuận Thành (Bắc Ninh)

Chùa Dâu tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa có nhiều tên gọi: Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự, Chùa cả. Chùa thờ Pháp Vân. Nơi đây là trung tâm thành cổ Luy Lâu từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.

Continue reading Chùa Dâu – Thuận Thành (Bắc Ninh)